banner 728x90

Độc đáo nghệ thuật “Nói lý, hát lý” của đồng bào Cơ Tu

16/07/2024 Lượt xem: 3138

Nói lý, hát lý là một trong những hình thức tự sự dân gian đặc sắc và độc đáo, tồn tại từ thời xa xưa, không thể thiếu trong đời sống tinh thần của người Cơ Tu, tỉnh Quảng Nam. Đây là hình thức nghệ thuật ứng khẩu kết hợp giữa nói với hát, thường được các già làng, những người lớn tuổi trong làng sử dụng để chuyển tải tâm tình, cách ứng xử với nhau trong đời sống.

Người Cơ Tu chủ yếu sống tập trung ở huyện Tây Giang, Đông Giang và 6 xã ở huyện Nam Giang, tỉnh Quảng Nam với nghề nương rẫy là chính, ngoài ra còn có trồng trọt và chăn nuôi nhỏ lẻ, chủ yếu phục vụ nhu cầu tại chỗ. Tập quán nói lý, hát lý trong cộng đồng người Cơ Tu đã có từ lâu đời. Đây là loại hình nghệ thuật dân gian thổi hồn trong đời sống sinh hoạt của đồng bào nơi đây.

Văn hóa tộc người Cơ Tu rất đa dạng và phong phú. Trong sinh hoạt văn hóa văn nghệ và các lễ hội truyền thống như lễ hội đâm trâu, mừng lúa mới, mừng nhà mới hay cưới hỏi..., người Cơ Tu thường sử dụng nghệ thuật nói lý, hát lý truyền thống.

Đặc biệt, trong đám cưới người Cơ Tu thường sử dụng nghệ thuật nói lý, hát lý khá phổ biến. Đại diện nhà trai, nhà gái thông qua câu nói lý, hát lý để trao đổi, hai bên sui gia thông hiểu nhau hơn, giải quyết tốt đẹp những thủ tục cưới hỏi, thể hiện ý tứ những tình cảm sâu sắc được dành cho cô dâu chú rể, nhằm chúc mừng, bảo ban, tác hợp lứa đôi, để họ hạnh phúc bên nhau suốt cuộc đời.

Nói lý, hát lý còn được dùng như một phương tiện lý tưởng để giải quyết các mâu thuẫn, xích mích trong các mối quan hệ giữa gia đình, bạn bè, xã hội, công việc… Thông qua hình thức đối thoại mềm mại này, người ta hòa giải những xung đột, tranh chấp giữa các cá nhân với gia đình, cá nhân với cộng đồng hay giữa các cộng đồng với nhau một cách dễ dàng hơn. Nhờ lời ngâm nga chân tình, thâm thúy của già làng mà người với người xích lại gần nhau, từ mối bất đồng đến hòa giải, từ sự đấu tranh đến thương thuyết, từ sự giằng co đến lúc mọi việc được dàn xếp yên ổn. Lời hát lý của già làng khuyên hai bên phải nghe phân xử, hướng đến mối quan hệ tốt đẹp. Nói lý, hát lý chính là luật tục, là tập quán, là những chuẩn mực được đồng bào đặt ra để duy trì nếp sống tự quản của dân làng, hàm chứa những nội dung, tinh thần của pháp luật hiện hành. Chính điều này làm cho nói lý, hát lý mang tính nhân văn sâu sắc.

Điều thú vị của nghệ thuật nói lý, hát lý là ở chỗ, nói lý, hát lý là cuộc so tài về văn nghệ giữa hai bên, là cuộc đấu khẩu lý lẽ, vì vậy hai bên đều âm thầm sắp xếp lực lượng, ai hát trước, ai hát sau, ai kết thúc. Bên này hát một câu, bên kia hát đáp lại một câu, bà con cùng nhau bàn luận, trao đổi ý nghĩa câu hát. Mỗi người chỉ hát một câu, nhưng lời hát điêu luyện, hình ảnh vừa đẹp, vừa mới, ý tứ sâu xa, tóm tắt được ý kiến của mọi người.

Cái khó của nói lý, hát lý là không có bài mẫu chung để học hát, học nói mà nó phụ thuộc vào việc ứng khẩu của người đưa ra, trình độ, khả năng kinh nghiệm của từng nghệ nhân, người hát. Các làn điệu làm nên âm hưởng cho hát lý là ka lơi, cha chấp, rơah, kalâu-kalênh và điệu nơơi. Muốn nói lý, hát lý hay, sâu sắc, ngoài việc ăn nói lưu loát, nhanh trí tìm ra vần, biết lên bổng xuống trầm đúng lúc, đúng điệu, thì điều cơ bản là phải hiểu cho rành rọt xã hội và con người ở vùng đất đó. Cái hay nhất của nói lý, hát lý chính là dùng một hình tượng để chỉ một sự việc với những hình ảnh ví von, vì thế ngôn từ của nói lý, hát lý luôn ẩn ý. Nói tên một con suối phải biết đó là con suối cát hay đá, nước trong hay đục, sâu hay cạn, có nước bốn mùa hay chỉ có trong mùa mưa. Biết tường tận như vậy thì khi nghe người hát nêu tên con suối là biết ngay họ nói đến cái tốt, cái trong sạch, cái bền bỉ thủy chung; hay cái xấu, cái dơ bẩn, cái không ổn định.

Hầu hết đồng bào Cơ Tu đều biết nói lý, hát lý từ lúc gùi được nước uống, biết cầm cán rựa, con dao làm rẫy. Nhưng nói lý, hát lý sâu xa, nhiều tầng, nhiều lớp, để đả thông tư tưởng, giải quyết được công việc thì mỗi bản, mỗi thôn chỉ có một vài người. Nói lý, hát lý xem ra đã khó, nhưng hiểu được nói lý, hát lý còn khó hơn.

Các cụ già người Cơ Tu đối đáp bằng nói lý, hát lý

Vì vậy, trong các buổi nói lý, hát lý, chỉ có những người lớn tuổi có năng khiếu bẩm sinh, thường từ 50 tuổi trở lên và đặc biệt là già làng mới có được cái uy để tổ chức và tham gia nói lý, hát lý. Họ là những người đã được dân làng lựa chọn, hội tụ đủ yêu cầu cho một nghệ nhân hát lý như am hiểu phong tục tập quán, đĩnh đạc, tự tin... Do vậy, các “đối tác” phải ngang sức ngang tài với nhau, trước khi hát lý phải suy nghĩ cân nhắc và chắt lọc câu chữ thích hợp, để bên kia hiểu được nội dung và có cách đối đáp nhịp nhàng. Sự hứng thú, say mê của nghệ nhân tham gia hát lý được thăng hoa nhờ sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa ngôn ngữ, âm điệu, sự tán dương, khen ngợi của người nghe khi được thưởng thức lời ca và cảm nhận được những ý tứ sâu sắc từ người lĩnh xướng. Họ chính là linh hồn của buổi nói lý, hát lý.

Trong quá trình nói lý, hát lý, khi một bên nói lý đúng quá và đối phương không thể đối lại thì gọi là “hết lý” hoặc “chết lý”. Trong tập quán của người Cơ Tu, khi bị đối phương bắt lý và hết lý, dù là kẻ thù đi chăng nữa họ cũng tâm phục, khẩu phục và giảng hòa theo ý của đối phương.

Ngày nay, trong sinh hoạt lễ hội, giải quyết công việc trong nội bộ cộng đồng, người Cơ Tu vẫn không thể thiếu nói lý, hát lý. Đêm đêm, bên bếp lửa hồng, mọi người tụ tập để nghe già làng kể chuyện và tâm tình qua lại bằng lời hát lý thấm đẫm tình người. Đây là nét sinh hoạt văn hóa nghệ thuật độc đáo, có một không hai mà đồng bào dân tộc Cơ Tu vô cùng tự hào và luôn có ý thức gìn giữ, bảo tồn./. 

Ban Nghiên cứu Văn hóa

 

 

Tags:

Bài viết khác

Hải Phòng: Mâm bồng và lễ rước lão – nét đẹp văn hóa ở đình Tây

Mỗi mùa xuân về, lễ hội đình Tây không chỉ là dịp tưởng nhớ tiền nhân mà còn là không gian lưu giữ những giá trị văn hóa đặc sắc của làng quê Bắc Bộ. Trong đó, mâm bồng đầy sắc quả và nghi lễ rước lão vẫn lặng lẽ góp phần làm nên bản sắc riêng, gợi nhắc về một truyền thống lâu đời được gìn giữ qua nhiều thế hệ.

Ý nghĩa cây đào - quất - mai ngày Tết

Tết đến xuân về, người Việt thường mua đào, mai, quất về trưng bày cho ngôi nhà, mong muốn may mắn, phước lộc sẽ đến với mọi người trong gia đình. Tuy nhiên, không phải ai cũng biết hết ý nghĩa của các loài cây này, chỉ biết rằng, vào dịp Tết Nguyên Đán, việc trang trí ngôi nhà bằng những cành đào, cây quất, cây mai đã trở thành tục lệ, nét đẹp văn hóa của người dân Việt Nam.

Những tập tục kiêng kỵ ngày đầu xuân năm mới

Mong muốn gặp những điều tốt đẹp, may mắn, sung túc người Việt có những tập tục kiêng kỵ ngày đầu xuân năm mới: quét nhà, làm vỡ đồ đạc, đòi nợ, cãi nhau…

Quan niệm “mùng 1 Tết cha, mùng 2 Tết mẹ, mùng 3 Tết thầy” trong văn hóa người Việt

Quan niệm “mùng 1 Tết cha, mùng 2 Tết mẹ, mùng 3 Tết thầy” đã xuất hiện từ rất lâu trong văn hóa của người Việt, nhưng người ta không xác định được chính xác nguồn gốc của câu nói dân gian này. Trải qua hàng nghìn năm, câu nói dân gian “mùng 1 Tết cha, mùng 2 Tết mẹ, mùng 3 Tết thầy” đã trở thành một thành ngữ ăn sâu vào trong văn hóa truyền thống của người Việt Nam.

Tục tống cựu nghinh tân đón Tết của người Việt

Tống cựu nghinh (nghênh) tân vốn nghĩa là đưa cái cũ đi, đón cái mới đến, tống tiễn những khó khăn vất vả năm cũ và dành chỗ cho những may mắn tốt đẹp sắp đến trong năm mới.

Đi Lễ Chùa Đầu Năm - Nét Duyên Trong Phong Tục Ngày Tết

Trong đời sống văn hóa của người Á Đông nói chung và người Việt nói riêng thì đi lễ chùa đầu năm cầu may mắn, bình an là phong tục tập quán lâu đời. Mùa xuân là mùa sinh sôi nảy nở trong quan niệm, khởi đầu năm mới và gắn liền với tín ngưỡng của người Việt.

Phong tục truyền thống Đêm giao thừa

Giao thừa là thời khắc chuyển giao giữa năm cũ và năm mới, thời khắc trời đất giao hòa, âm dương hòa quyện để vạn vật bừng lên sức sống mới.

Nguồn gốc và ý nghĩa Tết Nguyên Đán

Tết đến xuân về không chỉ là niềm khao khát của biết bao đứa trẻ để được xúng xính quần áo mới, được ăn bánh mứt và nhất là được nhận lì xì mà nó còn mang một ý nghĩa vô cùng sâu sắc. Đó là điểm giao thời giữa năm cũ và năm mới, giữa một chu kỳ vận hành của đất trời, vạn vật cỏ cây.
Top