banner 728x90

Nhạc lễ Phật giáo Nam bộ, nét văn hóa truyền thống

16/04/2024 Lượt xem: 2843

Xuất phát từ nhu cầu của cuộc sống nói chung, đời sống tâm linh nói riêng, một loại hình nhạc lễ hình thành nhằm đáp ứng yêu cầu sinh hoạt trong các nghi lễ Phật giáo. Đây là loại nhạc đi từ dòng nhạc cổ truyền của dân tộc, mang sắc thái dân tộc, được vận dụng một cách sáng tạo, phục vụ đắc lực cho sinh hoạt lễ nghi và các lễ hội Phật giáo. Nhạc lễ Phật giáo - một mảng văn hóa góp phần tạo nên sắc thái riêng, là một bộ phận quan trọng không thể thiếu trong nghi lễ Phật giáo Nam bộ.

Nhạc lễ Phật giáo, một loại hình nghệ thuật độc đáo, kết hợp giữa nhạc lễ nghi thức với tài năng diễn xướng của các vị sư. Các nhạc công đạt được những khả năng tuyệt kỷ ở những ngón đàn, tay trống... sẽ góp phần to lớn cho sự thành công của buổi lễ, nhưng để thu hút những người mến mộ và tạo được ấn tượng khó phai cho mọi người, các vị kinh sư đóng vai trò cốt yếu. Cố nhiên, không phải ban nhạc lễ nào cũng làm được điều này, và sự thành công đó chỉ có thể được tạo nên từ sự khổ luyện của các nhà sư.

Nhạc lễ phật giáo

Nhạc lễ nói chung, nhạc lễ Phật giáo nói riêng trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu của người dân Nam bộ, được lưu truyền hàng mấy trăm năm. Có những lúc khó khăn, tưởng chừng không đứng vững, nhưng rồi sức mạnh truyền thống ấy giúp nó đứng lên, tồn tại và phát triển đến hôm nay. Người có công lớn trong việc duy trì, chấn hưng nhạc lễ cổ truyền Nam bộ, trong đó có nhạc lễ Phật giáo, không thể không nói đến Sư Nguyệt Chiếu và người thừa kế là Thượng tọa Thích Thiện Thành ở Bạc Liêu.

Là nhạc lễ Phật giáo, nhưng nhạc lễ kinh sư Nam bộ có những nét rất riêng. Bên cạnh tính chất truyền thống, đậm đà bản sắc dân tộc, nhạc lễ Phật giáo Nam bộ mang trong mình nó nhiều yếu tố tiếp biến và dung hợp các dòng văn hóa khác nhau thể hiện khá rõ nét. Ta có thể nhận ra trong nhạc lễ những yếu tố địa lý, dân cư của vùng đất mới, đặc điểm môi sinh xã hội khác với những vùng miền khác của đất nước.

Trong diễn trình lịch sử vùng đất Nam bộ, những yếu tố tự nhiên và xã hội đó đã mang lại sự dung hợp văn hóa, hình thành nên những nét văn hóa mới đa sắc diện, kết tinh từ yếu tố truyền thống của dân tộc và các vùng miền. Người dân Nam bộ đã thể hiện một sự sáng tạo lớn lao trong quá trình tiếp biến văn hóa từ những vùng miền khác nhau và ngay cả chính từ tiền nhân. Những điệu nhạc cung đình, ca ra bộ, hát bội, hò vè, hát ru, và cả Hồ Quảng của người Hoa... từ nhiều nơi hội tụ về đây, tất cả kết tinh lại, tạo nên một sắc thái mới phù hợp với hoàn cảnh và tâm tư của lưu dân Việt trong quá trình mở cõi.

Các nhà nghiên cứu âm nhạc đã đánh giá vai trò của Sư Nguyệt Chiếu mà nêu bật đặc trưng của nhạc lễ Nam bộ, cho rằng “Sư Nguyệt Chiếu đã tạo nên những âm sắc mới phù hợp với hoàn cảnh mới, tâm tình của con người ở vùng đất mới (có thể kể cả yếu tố thiên nhiên, môi trường cảnh quan, hoàn cảnh cộng cư, sự phức hợp về văn hóa và cả điều kiện dung hợp về văn hóa nữa) mà nhạc lễ của Sư Nguyệt Chiếu đóng góp vào kho tàng nhạc lễ cổ truyền Nam bộ có những nét đặc thù: vừa bảo vệ được những yếu tố truyền thống, vừa phát huy tính ưu việt của dòng nhạc dân gian vào dòng nhạc lễ cổ điển, khiến nó vừa thoát khỏi sự gò bó, khô cứng vốn có của nhạc lễ cổ điển (tồn tại ở Bắc bộ).

Nói chung, sức sáng tạo của người Nam bộ đã làm nên một kỳ tích, tạo ra những giá trị văn hóa phi vật thể mà con cháu muôn đời phải tri ân. Nghị quyết TW 5 (khóa VIII) của Đảng Cộng sản Việt Nam ghi rõ: “Di sản văn hóa là tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị mới và giao lưu văn hóa...”. Phải hết sức coi trọng bảo tồn, kế thừa và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống để làm giàu cho cuộc sống hôm nay.

Muốn làm tốt điều này, việc nghiên cứu nhạc lễ Phật giáo nói riêng, nhạc lễ cổ truyền Nam bộ nói chung phải được xem là nhiệm vụ quan trọng và cần kíp của Giáo hội Phật giáo, của các nhà khoa học và của cơ quan chức năng. Trước hết, Giáo hội Phật giáo cần tăng cường đào luyện kinh sư, nhạc công làm hạt nhân tập hợp các thành viên cho ban nhạc lễ. Việc làm này nếu chậm chân sẽ dẫn đến nguy cơ làm tắt dòng chảy bởi sự thất truyền do tác động của thời gian và những tác nhân văn hóa khác.

Ban Nghiên cứu văn hóa

Tags:

Bài viết khác

Đàn ching kram trong đời sống văn hóa các dân tộc Tây Nguyên

Đàn ching kram, còn gọi là chiêng tre, không chỉ là một nhạc cụ truyền thống mà còn là biểu tượng văn hóa, kết tinh đời sống tinh thần của người Ê Đê nói riêng và các dân tộc thiểu số Tây Nguyên nói chung. Với các nghệ nhân, ching kram không đơn thuần là phương tiện diễn tấu âm nhạc, mà là cách để kết nối với cội nguồn, với thiên nhiên và những giá trị văn hóa được truyền qua nhiều thế hệ.

Nước mắm – tinh hoa hồn biển trong văn hóa Việt

Việt Nam được thiên nhiên ưu đãi với đường bờ biển dài hơn 3.000 km, nguồn hải sản phong phú cùng khí hậu gió nắng đặc trưng của vùng nhiệt đới gió mùa. Trong điều kiện tự nhiên ấy, từ rất sớm, cư dân ven biển đã sáng tạo nên nước mắm – loại gia vị mặn mà, đậm đà, kết tinh tinh hoa của biển cả và trí tuệ dân gian Việt Nam.

Văn hóa Đông Sơn – Nền tảng rực rỡ của văn minh Việt cổ

Văn hóa Đông Sơn là một trong những đỉnh cao tiêu biểu của văn minh Việt cổ, phản ánh rõ nét bản sắc văn hóa bản địa của cư dân người Việt trong thời kỳ tiền – sơ sử. Trên nền tảng văn hóa này, các nhà nước đầu tiên trong lịch sử dân tộc như Văn Lang thời các Vua Hùng và Âu Lạc dưới triều An Dương Vương đã được hình thành, mở đầu cho tiến trình dựng nước lâu dài của dân tộc Việt Nam.

Nghệ thuật múa Khmer – Di sản văn hóa Tây Ninh

Tây Ninh là vùng đất hội tụ và giao thoa của nhiều nền văn hóa, nơi các giá trị truyền thống của cộng đồng các dân tộc vẫn được gìn giữ và phát huy trong đời sống đương đại. Trong bức tranh văn hóa đa sắc ấy, nghệ thuật múa truyền thống của đồng bào Khmer, tiêu biểu là múa chằn và múa Apsara, giữ vai trò quan trọng, góp phần làm nên bản sắc riêng của địa phương.

Chùa Cổ Thạch: Chốn tâm linh cổ kính giữa biển và núi

Giữa vùng duyên hải đầy nắng gió của tỉnh Bình Thuận cũ, chùa Cổ Thạch (hay chùa Hang) hiện lên như một khoảng lặng hiếm hoi, nơi con người có thể tạm rời xa nhịp sống hối hả để tìm về sự an yên. Tựa lưng vào núi đá, hướng mặt ra biển Đông, ngôi cổ tự hơn 180 năm tuổi mang vẻ đẹp giao hòa giữa thiên nhiên hoang sơ và không gian tâm linh trầm mặc, trở thành điểm dừng chân không thể bỏ qua trên hành trình khám phá miền biển Nam Trung Bộ.

Chùa Vĩnh Tràng – Di sản kiến trúc độc đáo giữa lòng Nam Bộ

Chùa Vĩnh Tràng, ngôi cổ tự nổi tiếng của vùng đất Mỹ Tho xưa, nay thuộc phường Mỹ Phong, tỉnh Đồng Tháp, từ lâu được xem là một trong những trung tâm sinh hoạt Phật giáo quan trọng của khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Không chỉ mang giá trị tôn giáo, chùa còn là một di sản văn hóa – kiến trúc đặc sắc, thu hút đông đảo du khách trong và ngoài nước.

Âm nhạc truyền thống Việt Nam – Giai điệu bền bỉ cùng thời gian

Âm nhạc truyền thống Việt Nam là một phần quan trọng trong kho tàng di sản văn hóa dân tộc, phản ánh chiều sâu lịch sử và đời sống tinh thần phong phú của người Việt. Trải qua hàng trăm năm hình thành và phát triển, những làn điệu dân gian, nhạc lễ, nhạc cung đình vẫn được lưu truyền, gìn giữ như những “giai điệu của tâm hồn”, gắn bó mật thiết với sinh hoạt văn hóa cộng đồng.

Tháp Trầm hương – biểu tượng văn hóa giữa lòng phố biển

Từ lâu, trầm hương được xem là món quà quý của thiên nhiên, kết tinh từ linh khí đất trời qua hàng ngàn năm. Không chỉ mang giá trị tâm linh, trầm hương còn là dấu ấn văn hóa đặc biệt của cư dân vùng duyên hải miền Trung.
Top