banner 728x90

Nghệ thuật khảm sành đặc sắc triều Nguyễn

05/01/2026 Lượt xem: 2456

Huế mang trong mình những nét cổ kính trầm mặc bởi những công trình còn mãi với thời gian, những điện đài lăng tẩm nằm bên dòng sông Hương thơ mộng với kiến trúc đa dạng mang đậm chất truyền thống. Và một nghề cổ cũng góp phần tạo nên vẻ đẹp đậm chất Huế chính là nghề khảm sành sứ.

Nghề khảm sành sứ có từ thế kỷ 17, ban đầu vốn là nghệ thuật dân gian, trải qua những thăng trầm biến đổi của lịch sử, nghệ thuật khảm sành sứ dần được nhiều người biết đến và trở thành nghệ thuật cung đình. Ngay từ ban đầu những người nghệ nhân đã sáng tạo bằng cách dùng những mảnh sành sứ hay mảnh gốm vỡ để tạo nên những sản phẩm trang trí. Sau đó nghệ thuật này dần được ứng dụng vào trong các đền đài, miếu mạo các đời chúa Nguyễn.

Giai đoạn phát triển phong phú và lên đến đỉnh cao của khảm sành sứ bắt đầu từ cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20. Phần lớn các kiến trúc trong thời gian này đều được khảm sành sứ. Người ta xem nó như một giải pháp kiến trúc đặc sắc và nghệ thuật trang trí này cũng được đánh giá rất cao.

(Ảnh qua hueeasyrider.com)

Để có được hình tượng Long, Ly, Quy, Phượng, hay những con Giao, con Nghê, các nghệ nhân đã sử dụng mảnh sành sứ, chén, sau này có thêm những vật liệu khác như thủy tinh màu, thủy tinh trong suốt, ốp trên bề mặt, chất liệu đơn giản, dân dã, bình dị.

Nghệ thuật khảm sành sứ ở mỗi địa điểm hay khu vực khác nhau đều có nghệ thuật trang trí khác nhau. Thông thường ở các đình chùa thì hoa văn họa tiết sẽ đơn giản, còn ở cung đình thì cầu kỳ hơn với chất men có độ bóng, độ bền cao.

Các loại vật liệu khảm sành sứ được lựa chọn khá kỹ lưỡng từ mảnh vỡ của những loại gốm cổ và có niên đại xa xưa, vì vậy nguồn nguyên liệu cho nghệ thuật khảm sành sứ luôn khan hiếm.

(Ảnh qua langnghevietnam.vn)

Huế là nơi đóng đô của vương triều nhà nguyễn trong 140 năm, từ 1805 đến 1945. Trong suốt thời kỳ này và cả thời kỳ trước đó, Huế trở thành nơi giao thương buôn bán sầm uất giữa các nước trong khu vực. Lượng tàu thuyền đi lại cập bến ở sông Hương nhiều không kể xiết. Chính vì vậy mà dưới lòng sông Hương lưu giữ một lớp trầm tích văn hóa vô cùng phong phú. Lớp trầm tích ít ai biết đến đó chính là những mảnh sành sứ, mảnh gốm có khi cả nghìn năm tuổi.

(Ảnh sưu tầm)

Khi trang trí cho các cung điện, người nghệ nhân phải tìm những loại mảnh sành sứ rất đặc biệt, lưu lại từ niên đại xa xưa. Những nguyên liệu đó đều được các nghệ nhân lựa chọn tỉ mỉ cho từng công trình. Vốn là loại nguyên liệu quý, chúng chủ yếu được tìm thấy trên các con tàu buôn hay từ dưới lòng sông. Các nhà nghiên cứu cho rằng chính nhờ lượng lớn gốm sứ đó mà nghệ thuật trong lăng tẩm đền đài và nơi thờ cúng ở Huế đã phát triển cực thịnh, trở thành nét văn hóa không thể thiếu ở vùng đất cố đô. Sau này mãi đến năm 1975, những người đi vớt phế liệu mới phát hiện lại kho tàng này và từ đó người ta mới tiếp tục khai thác chúng.

(Ảnh qua vntrip.vn)

Trong lúc khảm, tùy từng chất liệu mà người nghệ nhân có thể sắp đồng chất hoặc đối liệu về chất theo màu men, chất men, và cường độ tiếp sáng. Để các vật liệu bám chắc thì cần dùng chất kế dính làm từ hàu trộn với vôi, cùng một số loại lá cây và mật. Kỹ thuật cắt gọt cũng cầu kỳ, để các mảnh sành sứ gắn lên khít nhau, không bị lộ mạch vữa.

Men khảm sành thường có màu tươi sáng và rực rỡ. Các màu đỏ tía, đỏ cánh sen hồng thuộc gam màu nóng, chủ đạo trong các bức tranh; màu men sử dụng khảm mắt rồng mắt phượng; còn màu xanh phổ biến là xanh lục, xanh lam, xanh tím.

(Ảnh qua tintuc.hues.vn)

Được lưu truyền từ lâu, nghệ thuật khảm sành sứ trong kiến trúc Huế luôn truyền tải những hình tượng thật gần gũi và sống động. Cũng chính nhờ những tác phẩm khảm sánh sứ mà kiến trúc Huế mang trong mình vẻ đẹp của sự tài hoa và bí ẩn đầy quyến rũ.

Lê Nguyên

 

 

Tags:

Bài viết khác

Ngàn Nưa (Thanh Hóa): Vùng đất thiêng gắn với cuộc khởi nghĩa Bà Triệu

Ngàn Nưa (xã Tân Ninh, tỉnh Thanh Hóa) là vùng đất hội tụ nhiều lớp trầm tích lịch sử, văn hóa và tín ngưỡng dân gian, gắn liền với những dấu mốc quan trọng trong tiến trình dựng nước và giữ nước của dân tộc. Nơi đây không chỉ được biết đến là căn cứ của cuộc khởi nghĩa Bà Triệu chống quân Đông Ngô vào thế kỷ III, mà còn nổi tiếng với những truyền thuyết linh thiêng, huyền bí được lưu truyền qua hàng nghìn năm, tạo nên một không gian văn hóa tâm linh đặc sắc của xứ Thanh.

Nhà thờ Năng Gù – Dấu ấn lịch sử của một giáo xứ lâu đời ở An Giang

Nhà thờ Năng Gù là một trong những công trình tôn giáo tiêu biểu của xã Bình Hòa, tỉnh An Giang (trước đây là Xã An Hòa, huyện Châu Thành, tỉnh An Giang), gây ấn tượng bởi kiến trúc cổ kính và không gian thanh bình giữa vùng quê Nam Bộ. Trải qua hơn một thế kỷ hình thành và phát triển, nhà thờ không chỉ là nơi sinh hoạt tín ngưỡng của giáo dân địa phương mà còn mang giá trị lịch sử, văn hóa và kiến trúc đặc sắc.

Đình Điều Hòa (phường Mỹ Tho, tỉnh Đồng Tháp) – Di tích hơn hai thế kỷ trong tiến trình hình thành cộng đồng Nam Bộ

Tọa lạc tại số 101 đường Trịnh Hoài Đức, phường Mỹ Tho, tỉnh Đồng Tháp, đình Điều Hòa là một trong những ngôi đình cổ tiêu biểu của vùng đất Mỹ Tho. Công trình phản ánh rõ nét tiến trình hình thành và phát triển của cộng đồng cư dân Nam Bộ trong giai đoạn khai phá phương Nam.

Chùa Nhẫm Dương – Dấu ấn lịch sử, tâm linh và khảo cổ giữa miền núi đá vôi Kinh Môn

Chùa Nhẫm Dương, còn gọi là Thánh Quang Tự, nằm tại phường Duy Tân, thị xã Kinh Môn, tỉnh Hải Dương cũ (nay thuộc phường Nhị Chiểu, thành phố Hải Phòng). Ngôi chùa tọa lạc dưới chân dãy núi Nhẫm Dương, thuộc hệ thống núi đá vôi Yên Tử kéo dài qua khu vực Đông Bắc Bộ – vùng đất được coi là địa linh nhân kiệt của đồng bằng sông Hồng.

Nhà cổ Đốc Phủ sứ Nguyễn Văn Kiên – dấu ấn kiến trúc hơn một thế kỷ ở Tây Ninh

Tây Ninh hiện có 223 di tích lịch sử – văn hóa, trong đó có Di tích quốc gia đặc biệt Trung ương Cục miền Nam, 50 di tích cấp quốc gia cùng nhiều công trình kiến trúc mang đậm dấu ấn Nam Bộ từ thế kỷ trước. Giữa hệ thống di sản ấy, nhà cổ của Đốc Phủ sứ Nguyễn Văn Kiên (1854–1914) được xem là một kiến trúc tiêu biểu, thu hút đông đảo du khách trong và ngoài nước.

Tu viện Khánh An – “Góc Nhật Bản” thanh tịnh giữa lòng TP.Hồ Chí Minh

Tu viện Khánh An hay Chùa Khánh An (phường An Phú Đông, TP.Hồ Chí Minh) không chỉ là một điểm đến tâm linh quen thuộc của người dân thành phố mà còn là di tích lịch sử có giá trị đặc biệt, ghi dấu nhiều sự kiện quan trọng trong các giai đoạn đấu tranh của dân tộc. Trải qua hơn một thế kỷ hình thành và phát triển, nơi đây vừa mang chiều sâu lịch sử, vừa gây ấn tượng bởi kiến trúc độc đáo, được ví như “góc Nhật Bản” giữa lòng Sài Gòn.

Chùa Mật Đa – dấu ấn văn hóa, lịch sử giữa lòng Nam Ngạn, Thanh Hóa

Chùa Mật Đa, còn được gọi là chùa Nam Ngạn, tọa lạc tại phường Hàm Rồng, TP.Thanh Hóa. Với giá trị lịch sử, kiến trúc và văn hóa đặc biệt, ngôi chùa đã được công nhận là Di tích Lịch sử – Văn hóa cấp quốc gia từ năm 1989. Nằm lặng mình bên hữu ngạn sông Mã, cách cầu Hàm Rồng không xa, chùa hiện diện như một “rừng cây thơm” của đạo Phật – nơi hội tụ linh khí và tinh hoa đất trời xứ Thanh.

Chùa Mao Xá – Nốt lặng thanh tịnh giữa đồng quê xứ Thanh

Giữa cánh đồng lúa mênh mông ở thôn 5, xã Đông Minh (TP.Thanh Hóa), chùa Mao Xá (hay còn gọi là Thiệu Hưng Cổ Tự) hiện lên bình dị, thanh tịnh giữa không gian đồng quê yên ả. Đây không chỉ là điểm đến tâm linh quen thuộc của người dân xứ Thanh, mà còn là di tích mang giá trị lịch sử, văn hóa đặc sắc.
Top