banner 728x90

ĐỀ THI GIỮA KỲ 2 MÔN NGỮ VĂN LỚP 10 (năm học 2024 - 2025)

26/10/2025 Lượt xem: 2954

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BÌNH ĐỊNH

    TRƯỜNG THPT BÙI THỊ XUÂN

-------------------

   HƯỚNG DẪN CHẤM

ĐỀ KIỂM TRA GIỮA KÌ II, NĂM HỌC 2024 - 2025

MÔN: NGỮ VĂN – LỚP 10

(Hướng dẫn chấm có 02 trang)

Phần

Câu

Nội dung

Điểm

I.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

ĐỌC HIỂU

6.0

MÃ ĐỀ

132

209

357

485

 

1

B

D

C

A

0.5

2

B

D

A

A

0.5

3

D

B

B

C

0.5

4

A

D

C

A

0.5

5

D

C

A

C

0.5

6

C

D

D

A

0.5

7

C

B

D

D

0.5

8

Cảm nhận về hình tượng người bà trong câu chuyện:

- Hình tượng người bà là một hình tượng đẹp đẽ, giàu ý nghĩa;

- Bà không chỉ là nhân vật trung tâm của câu chuyện mà còn là biểu tượng cho tình yêu thương, sự ấm áp, bao dung;

- Bà là người thắp lửa, người gieo mầm, vun đắp những giá trị truyền thống của gia đình;

- Chính bà là nguồn cảm hứng để nhân vật “tôi” viết lên bài văn giàu cảm xúc chân thành về quê nội với nhiều tâm tư tha thiết.

*Hướng dẫn chấm:

- HS chỉ cần ghi ý, trả lời như đáp án: 1,0 điểm;(mỗi ý 0,25 điểm)

- HS có thể trả lời theo cảm nhận cá nhân nhưng vẫn thuyết phục, GK linh hoạt ghi điểm.

1.0

9

Bài học tâm đắc nhất mà anh/chị tiếp nhận được qua truyện ngắn Quê hương?

- HS có thể tiếp nhận các bài học về:

+ tình cảm gia đình,

+ tình yêu quê hương đất nước

+ sự thấu hiểu và biết ơn

+ ý thức trân trọng những giá trị văn hóa truyền thống…

- Có sự lý giải thuyết phục.

Hướng dẫn chấm:

- Học sinh trả lời theo cảm nhận cá nhân, có lý giải thuyết phục, ghi 1.5 điểm

- Các mức độ còn lại, GK đánh giá linh hoạt.

1.5

II.

VIẾT:

             Anh/chị hãy viết một bài văn nghị luận phân tích, đánh giá một số nét đặc sắc về nội dung, nghệ thuật truyện ngắn Quê hương của nhà văn Đào Quốc Thịnh.

4.0

 

 

a. Xác định được yêu cầu của kiểu bài

Nghị luận văn học - phân tích, đánh giá về nội dung và nghệ thuật của một văn bản truyện

0.5

 

 

b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận

Phân tích, đánh giá một số nét đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của truyện ngắn Quê hương (Đào Quốc Thịnh).

0.5

 

 

c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề của bài viết:

- Xác định được các ý chính của bài viết

- Sắp xếp hợp lý các ý theo bố cục 3 phần của bài văn nghị luận:

* Giới thiệu vấn đề nghị luận

* Triển khai vấn đề nghị luận

- Giới thiệu khái quát về tác giả, tác phẩm

- Phân tích, đánh giá những độc đáo về nội dung và nghệ thuật của truyện ngắn:

HS có thể lựa chọn các thao tác lập luận phù hợp, triển khai vấn đề nghị luận theo nhiều cách để làm rõ yêu cầu luận đề; đảm bảo sự hợp lý, thuyết phục; Có thể triển khai theo hướng:

+ Xác định người kể chuyện, ngôi kể, nhân vật chính; những sự kiện, chi tiết quan trọng góp phần chuyển tải những thông điệp tư tưởng, ý nghĩa triết lý, nhân văn qua tác phẩm.

Trọng tâm: các chi tiết tái hiện hành động, lời nói, diễn biến tâm lý, sự chuyển biến trong nhận thức và tính cách của nhân vật “tôi”: dửng dưng, chán ghét; thấu hiểu, yêu mến, tri ân, tiếc nuối, xót xa…

+ Nghệ thuật: tạo dựng tình huống truyện; bút pháp đồng hiện; miêu tả tâm lý tinh tế; ngôn ngữ quen thuộc, bình dị, gần gũi; nhan đề giàu sức gợi…

 - Chỉ ra được ý nghĩa thông điệp văn bản và bài học nhận thức của bản thân sau khi đọc văn bản:

(nhận ra những giá trị đích thực của cuộc sống là những điều tưởng như bình dị nhưng vô cùng ấm áp; bài học về tình cảm gia đình, tình yêu quê hương đất nước;  sự thấu hiểu và biết ơn; ý thức trân trọng những giá trị văn hóa truyền thống…)

 

1.0

 

 

d. Viết bài văn đảm bảo các yêu cầu sau:

- Triển khai được đầy đủ các luận điểm để làm rõ yêu cầu của đề bài

- Lựa chọn được các thao tác lập luận, các phương thức biểu đạt phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận

- Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: lí lẽ xác đáng, bằng chứng tiêu biểu, phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn giữa lí lẽ và bằng chứng.

1.0

 

 

đ. Diễn đạt, chính tả, trình bày

Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt; diễn đạt trong sáng, đảm bảo liên kết văn bản, trình bày đúng quy định.

* Lưu ý: Không ghi điểm nếu bài làm có quá nhiều lỗi chính tả, ngữ pháp.

0.5

 

 

e. Sáng tạo

Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ, có liên hệ kết nối, có vận dụng lí luận.

0.5

              Tổng điểm

10.0

 

ĐỀ SOẠN THẢO

PHẦN I. ĐỌC HIỂU ( 6,0 điểm)

Đọc văn bản:

QUÊ HƯƠNG

            Cả lớp lặng im, những con mắt đổ dồn về phía tôi khi nghe tôi đọc xong bài văn tả phong cảnh quê hương được cô giáo cho điểm cao nhất lớp hôm nay. Cô giáo đi lại gần, hỏi tôi, thoáng một chút nghi ngờ:

            – Là một học sinh thành phố, làm thế nào mà em có thể viết được một bài văn tả quê hương sâu sắc, chân thật và gần gũi đến như vậy?

            – Thưa cô… bà em… giúp em ạ!

            – Sao? Em vừa nói gì? Bà em viết hộ em à?

            – Thưa cô, không ạ!… Vâng, đúng ạ!

            Tôi nhìn ra hàng phượng vĩ trước sân trường và chợt nhớ đến mùa hè năm ấy… Tháng 5, bố đưa tôi về quê nội. Quê nội tôi, một xóm nghèo bên kia sông Hồng. Biết bao lần, tôi đã mơ ước được về thăm quê, thăm bà, thế nhưng mới bước chân lên con đường làng lầy lội, lớp nhớp bùn sau cơn mưa, nhìn những mái nhà tranh thấp tè ẩm ướt sau lũy tre làng, tôi đã bắt đầu thất vọng. Tôi không dám cằn nhằn nhưng ấm ức nghĩ thầm: “Sao mà bẩn thế! Biết thế này, mình chẳng đòi bố cho về nữa”.

            Bố tôi tươi cười chào người làng, có lúc lại còn đứng lại nói chuyện với một bác gánh phân. Bữa cơm trưa hôm ấy, bà tôi tấm tắc khen ngon và gắp vào bát tôi miếng thịt luộc. Tôi gắp ra nhăn mặt: “Mỡ thế này, cháu ăn làm sao được!”

             Bố chan canh cua, mới ăn được một miếng tôi đã vội kêu lên: “Canh chưa cho mì chính, nhạt lắm, lại hôi hôi, con ăn chưa quen…”. Cả nhà lặng người. Bố tôi tái mặt vì giận.

            Tối hôm ấy trăng rằm, bà tôi kê ghế ra ngoài sân nhặt khoai lang và kể cho tôi nghe đủ mọi chuyện. Bà kể rằng, bố tôi từ nơi này ra đi. Và chính nơi này, bố tôi lớn lên bằng lời ru của bà, bằng đôi tay ẵm bồng của bao người. Bà đã từng mớm cho tôi, nuôi tôi khôn lớn ở đây. Tình cảm quê mùa nhưng chân thật. Bà chỉ tay về phía góc trời sáng rực lên và bảo đó là Hà Nội. Bà bảo rằng: “Ở Hà Nội sướng hơn ở quê nên ai ai cũng ước ao được sống ở Hà Nội, còn bà thì thích ở quê hơn vì bà quen mất rồi. Nếu cháu cứ ở Hà Nội mãi, sẽ chẳng bao giờ biết được ánh trăng ở quê đẹp thế nào đâu!”.

            Tôi ngước nhìn lên bầu trời xanh thẳm không một gợn mây, chi chít những vì sao. Trăng treo lơ lửng trên đầu ngọn tre in đậm nền trời. Ánh trăng trùm lấy mái nhà và khu vườn rau xanh tốt của bà. Lúc ấy, tôi bỗng nắm chặt lấy tay bà và thốt lên:

            “Bà ơi! Trăng ở quê đẹp thật bà ạ!…”

            Sau mùa hè năm ấy, bà nội tôi đã ra đi mãi mãi. Hè nào tôi cũng xin bố cho về thăm quê. Quê nội tôi bây giờ khác hẳn, chẳng còn một tý dấu vết  nào của ngày xưa nữa. Những dãy nhà hai, ba tầng san sát nhau mọc lên như nấm. Không ai còn nhớ nổi bóng dáng lũy tre xanh…

            Tôi cầm bút viết, dồn tất cả tình cảm nhớ thương sâu đậm với bà vào bài tập làm văn tả phong cảnh quê hương hôm ấy. Tôi viết về quê hương tôi với lũy tre xanh mát rượi và ánh trăng rằm dịu ngọt. Phải rồi, tôi bỗng hiểu ra rằng: chính bà đã làm xanh mãi ước mơ của tôi.

         (Truyện ngắn của Đào Quốc Thịnh, theo https://nguoihanoi.vn/que-huong-24577.html, ngày 1/8/2018)

* Chú thích:

Đào Quốc Thịnh sinh ngày 18/04/1957 tại Hà Nội. Ông là một nhà báo, nhà văn, là hội viên Hội Nhà báo Việt Nam. Hiện tại ông là Giám đốc Văn phòng Đại diện phía Nam, Viện Nghiên cứu Văn hóa Tín ngưỡng Việt Nam, Trưởng Đại diện Tạp chí Thương hiệu & Công luận tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu.

Đào Quốc Thịnh bắt đầu viết văn, viết báo từ năm 1996 với nhiều thể loại: truyện ngắn, phóng sự, ký sự. Ngoài ra ông còn viết kịch bản phim tài liệu. Gần 30 năm cầm bút, ông có gần 50 truyện ngắn, trong đó có cả truyện ngắn viết cho thiếu nhi và hàng trăm tác phẩm báo chí có giá trị.

Đào Quốc Thịnh là một cây bút có phong cách sáng tác độc đáo: khai thác những đề tài quen thuộc với góc nhìn chân thực, sắc sảo và tinh tế. Ông thường sử dụng ngôn ngữ bình dị, gần gũi với người đọc để chuyển tải những thông điệp sâu sắc về xã hội và nhân sinh. Quê hương (1996)  là truyện ngắn đầu tay của tác giả.

Lựa chọn đáp án đúng:

Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản trên.

A. Tự sự                     

B. Miêu tả        

C. Biểu cảm                 

D. Nghị luận

 

Câu 2. Truyện ngắn “Quê hương” được kể từ điểm nhìn của nhân vật nào?

A. Nhân vật “tôi”                   

B. Nhân vật người bố

C. Nhân vật người bà

D. Nhân vật cô giáo

 

Câu 3. Những chi tiết nào tái hiện hình ảnh quê nội trong lần theo bố về thăm quê của nhân vật “tôi”?

A. Một xóm nghèo bên kia sông Hồng; con đường làng lầy lội, lớp nhớp bùn sau cơn mưa, những mái nhà tranh thấp tè ẩm ướt sau lũy tre làng

B. Bà tôi kê ghế ra ngoài sân nhặt khoai lang và kể cho tôi nghe đủ mọi chuyện

C. Bữa cơm trưa hôm ấy, bà tôi tấm tắc khen ngon và gắp vào bát tôi miếng thịt luộc

D. Những dãy nhà hai, ba tầng san sát nhau mọc lên như nấm, không ai còn nhớ nổi bóng dáng lũy tre xanh

 

Câu 4. Xác định các biện pháp tu từ được sử dụng trong đoạn văn sau:

Quê nội tôi bây giờ cũng khác hẳn, chẳng còn một tý dấu vết nào của ngày xưa nữa. Những dãy nhà hai, ba tầng san sát nhau mọc lên như nấm. Không ai còn nhớ nổi bóng dáng luỹ tre xanh.

A. Liệt kê, so sánh

B. Ẩn dụ, nhân hóa    

C. Nói quá, liệt kê

D. Nhân hóa, so sánh

 

Câu 5. Chi tiết cuối truyện: “… tôi bỗng hiểu ra rằng: chính bà đã làm xanh mãi ước mơ của tôi” thể hiện những ý nghĩa gì?

(I). Nhận thức sâu sắc của nhân vật “tôi” về giá trị tinh thần mà người bà đã truyền lại.

(II). Câu chuyện về bà luôn gắn với những kỷ niệm đẹp của nhân vật “tôi” về quê hương.

(III). Bà là nguồn cảm hứng để nhân vật “tôi” nuôi dưỡng tình yêu quê hương và những ước mơ cao đẹp.

(IV). Những ước mơ xa xôi, có phần viển vông của nhân vật “tôi”.

A. (I), (II) và (III)

B. (I), (II) và (IV)

C. (II), (III) và (IV)

D. (I), (III) và (IV)

 

Câu 6. Cảm xúc của nhân vật “tôi” trong đêm trăng ở quê, được ngắm trăng cùng bà nội?

A. Xúc động, biết ơn                         

B. Buồn thương, nghẹn ngào                                               

C. Tiếc nuối, xót xa  

D. Ấm ức, thất vọng. 

 

Câu 7. Nhận định nào sau đây không phù hợp khi đánh giá về truyện ngắn “Quê hương”?

A. Người kể chuyện toàn tri, không trực tiếp tham gia câu chuyện, di chuyển điểm nhìn linh hoạt

B. Tác giả sử dụng từ ngữ bình dị, hình ảnh chân thực để tạo nên bức tranh quê hương gần gũi, ấm áp

C. Các biện pháp tu từ như so sánh, nhân hóa làm cho cảm xúc của nhân vật trở nên sâu sắc và sống động

D. Văn bản gửi đến người đọc thông điệp về tình cảm gia đình, sự gắn bó với quê hương và ý thức trân trọng những giá trị văn hóa truyền thống

Trả lời các câu hỏi:

Câu 8. Trình bày ngắn gọn cảm nhận của anh/chị về hình tượng người bà trong câu chuyện trên.

Câu 9. Bài học tâm đắc nhất mà anh/chị tiếp nhận được qua truyện ngắn Quê hương?

                                                                                            (trình bày và giải thích trong khoảng 5-7 dòng)

PHẦN II. VIẾT ( 4,0 điểm)

Anh/chị hãy viết một bài văn nghị luận phân tích, đánh giá một số nét đặc sắc về nội dung, nghệ thuật truyện ngắn Quê hương của nhà văn Đào Quốc Thịnh.

------------Hết-------------

 

Tags:

Bài viết khác

Truyện ngắn: Chuyện đàn bà

Ngày nào cũng vậy, sáng sớm, khi mặt trời vừa ló dạng thì Tư Lý đã có mặt ở chợ huyện. Tư Lý làm nghề bán chuối hơn ba năm nay và anh bán hàng rất có duyên. Khách hàng hễ đã mua chuối của anh một lần là lần sau lại muốn mua tiếp. Lý do đơn giản là giá rất rẻ. Anh thường mua tận gốc và bán tận chợ. Thường thì lúc các nhánh chuối được xếp ngay ngắn cũng là lúc bà con tụ lại. Ở đây, người dân đi chợ rất sớm, họ mua bán xong còn về làm nương rẫy.

Truyện ngắn: Trở về nơi ấy đảo xa

Hành trang chỉ là chiếc ba lô trên vai, ngày đầu tiên đến đảo trông chị như một nữ thanh niên xung phong rắn rỏi, hoạt bát hơn là một cô giáo thùy mị, dịu dàng. Trường chỉ có chị và bà cai trường kiêm luôn dịch vụ lau dọn nên được bố trí ở chung phòng và luôn được mọi người chăm nom, giúp đỡ.

Trường ĐH Kinh tế Quốc dân: Đề tự luyện học kì II đọc hiểu và viết văn

Đào Quốc Thịnh sinh ra và lớn lên tại Hà Nội, quê ở Hưng Yên. Ông nhập ngũ tháng 4/1975, tham gia chiến dịch tổng tiến công năm 1975 và trực tiếp tham gia chiến đấu tại biên giới phía Bắc. Đào Quốc Thịnh là một nhà báo, nhà văn, hội viên Hội Nhà báo Việt Nam. Trong thời gian 30 năm cầm bút, ông có gần 50 truyện ngắn, trong đó có cả truyện viết cho thiếu nhi.

Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn- ĐH Quốc gia TP.HCM: Đề kiểm tra giữa kỳ 2 năm 2025 - 2026 môn ngữ văn lớp 8

Đề kiểm tra giữa kỳ II môn Ngữ văn lớp 8 với nội dung phân tích thơ và truyện hiện đại

Truyện ngắn: Sự tích hoa xuyến chi

Đầu hạ, quả đồi lại được tô điểm thêm bằng những bông hoa xuyến chi bé nhỏ, tươi tắn. Những đêm trăng, trai, gái làng tôi lại ra đó hò hẹn. Anh Hòa cũng lấy hết can đảm để nói thật lòng mình với chị, rồi chị nhận lời yêu anh cũng trên quả đồi ngập đầy hoa xuyến chi. Anh kể cho chị nghe rất nhiều chuyện, từ chuyện về người mẹ đáng thương đã qua đời, chuyện người cha đã bỏ rơi anh và thằng Bin để đi theo tiếng gọi tình yêu mới, đến sự tích về hoa xuyến chi.

Truyện ngắn: Đuổi nhau

Tôi đến tìm Vũ vào cuối chiều. Ông bảo vệ già nheo mắt nhìn tôi dò hỏi. Tôi nói tên anh. Ông bảo vệ khoát tay: “Về lâu rồi! Đón con!”. Tôi thở dài. Vậy mà sáng nay, anh nhắn tin hẹn sẽ cùng tôi ra ngoại ô ăn tối. Tôi đã nhắn lại, hỏi anh ai sẽ đến trường đón con? Anh trả lời ngay, rất chắc chắn: “Vợ anh đón. Hai mẹ con về nhà ngoại. Anh sẽ có một buổi tối tự do”.

Truyện ngắn: Mai con sẽ về với mẹ

Tiếng mẹ thều thào, nặng trĩu, rời rạc như muốn nói với tôi điều gì nhưng tôi không thể nào nghe rõ. Nắng chiều chiếu qua khung cửa kính bệnh viện hắt lên khuôn mặt mẹ thứ ánh sáng vàng vọt hằn rõ vết nhăn thời gian trên đôi má gầy gò khiến lòng tôi như có triệu mũi kim châm. Tôi khóc. Khóc như chưa bao giờ được khóc bởi tôi biết mẹ sẽ không còn sống với mình nhiều thêm nữa. Mẹ ơi, con là đứa con bất hiếu...

Truyện ngắn: Bão tan

Trên hốc tường chỗ đầu hồi ngôi nhà nhỏ cuối xóm, có một cái tổ nho nhỏ của Sẻ Con. Từ khi mẹ cho ra ở riêng, cái hốc đó thành nơi đi về che mưa che nắng cho Sẻ. Hàng ngày cuộc sống của Sẻ Con cứ bình lặng trôi đi: Đón bình minh bằng những tiếng lích rích... lích rích rộn rã, lượn vài vòng cùng bạn Sẻ Nâu ra ngoài cánh đồng trước mặt, sà xuống vườn điểm tâm bằng mấy chú sâu đang lấp ló sau lá rau, cũng có khi là nhặt vài hạt trên mẹt đậu xanh của cô Thắm hong ngoài sân...
Top