banner 728x90

Tranh thờ của các dân tộc thiểu số ở miền núi phía Bắc

11/06/2024 Lượt xem: 3806

Mỗi dân tộc lại có một dòng tranh thờ mang đặc thù khác nhau từ nét vẽ, màu sắc cho đến số lượng tranh trong mỗi bộ.

Tranh thờ của các dân tộc thiểu số ở vùng miền núi phía Bắc hầu hết là tranh tôn giáo, gắn với tín ngưỡng đạo Phật hay đạo Lão, song tranh thờ vẫn mang rõ dấu ấn nghệ thuật của mỗi dân tộc, hình thành từ cội nguồn văn hóa và phong tục tập quán riêng. Mỗi dân tộc lại có một dòng tranh thờ mang đặc thù khác nhau từ nét vẽ, màu sắc cho đến số lượng tranh trong mỗi bộ.

Ở khu vực miền núi phía Bắc có những dân tộc như Tày, Nùng, Dao, Cao Lan, Sán Dìu đều có tập tục sử dụng tranh thờ trong các việc cúng lễ, ma chay. Đặc biệt, Tày và Dao là hai dân tộc đang sở hữu một số lượng lớn các loại tranh thờ. Họa sĩ Nguyễn Mạnh Đức cho biết: Đó là những dân tộc có tục lệ có tranh thờ miền núi để trông coi linh hồn người chết và khuyên giải con người nên sống như nào để khi chết sớm được siêu thoát. Trong bộ tranh thời chia thành hai loại là bên tạo và bên thầy. Bên thầy là phần hướng dạy dỗ, giảng dạy cách sống, hướng con người tới cuộc sống cao đẹp hơn. Còn bên tạo là dòng tranh thờ răn đe con người nếu sống trên trần thế mà độc ác thì khi chết sẽ chịu nhiều hình phạt khắc nghiệt.

Công tào Thiên phủ, Địa phủ, tranh thờ dân tộc Dao (Sưu tập Phạm Đức Sĩ)

Tranh thờ miền núi có mặt trong các lễ tang, biểu thị ước nguyện dân gian của gia đình người chết cầu cho vong hồn thân nhân thoát cảnh địa ngục, vươn tới cõi Niết bàn hay cõi Bất tử. Tranh thờ còn lại hiện nay lưu giữ tại Viện Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, phần nhiều là do thợ của tranh Hàng Trống vẽ. Họa sĩ Nguyễn Mạnh Đức cho biết đây là một trong ba nguồn chính thực hiện ra dòng tranh thờ miền núi hiện nay: Tranh thờ miền núi xuất phát từ tranh thờ Hàng Trống. Trước kia cả khu vực làm và cung cấp lên miền núi và đa phần người Tày sử dụng tranh Hàng Trống dưới xuôi với khối lượng khá lớn. Dòng hai là người dân tộc tự vẽ. Họ sử dụng lại những bộ tranh thờ dưới xuôi, dùng chất liệu màu của địa phương như son, lá nhọ nồi, lá cây gia nát làm màu để vẽ. Cách vẽ đó khá phong phú, đa dạng. Dòng tranh này khá hồn nhiên, được sử dụng rộng rãi.

Tổng đàn, tranh thờ dân tộc Dao

Nét vẽ của người thợ vẽ tranh Hàng trống tạo ra được sự uy linh của tranh thờ. Nghệ nhân Lê Đình Nghiên, người duy nhất còn lại của dòng tranh hàng Trống, Hà Nội, cho biết: Chỉ bằng ngọn bút lông, vẽ một nét sổ ngang, tỳ bút hai đầu tòe ra một nét rất là đơn giản, mềm mại như vậy thì tả được nụ cười của hình ảnh đức Phật. Nghệ thuật vờn cản là dùng nửa nước, nửa màu để đặc tả nét mặt hồn hậu của Phật. Điều này chỉ Việt Nam có, không lẫn với một dòng tranh nào khác kể cả tranh của Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản.

Tranh thờ do người dân tộc tự vẽ lấy thì những nét vẽ tự nhiên thể hiện nội tâm cũng như quan niệm của họ, nhìn qua có vẻ vụng về nhưng xem kỹ thì rất có hồn mà không một hoạ sĩ nào làm được. Tuy nhiên người vẽ tranh thờ khi bước vào quá trình sáng tác đều phải tuân thủ một cách nghiêm ngặt. Họa sĩ Nguyễn Mạnh Đức cho biết: Người được vẽ tranh thờ phải là người vẽ tốt. Trước khi bước vào quá trình vẽ tranh thờ thì người đó phải sống cách ly vợ con một thời gian và ở một phòng riêng. Họ cho rằng muốn vẽ được thì phải giữ sự trong sáng, không vướng bận đời sống khác vào. Nó giống như một nghi thức nên những bức tranh thờ đó được vẽ hết sức nghiêm cẩn.

Tranh làng Sình được sử dụng phổ biến ở Huế với mục đích cúng lễ ( (Ảnh: BTC)

Khác với dòng tranh Đông Hồ, Hàng Trống hay Kim Hoàng, trong sinh hoạt thường ngày, người dân tộc ở miền núi phía Bắc không dùng tranh thờ để trang trí nơi ăn ở của mình: Tranh thờ hoàn toàn không mang tính trưng bày trong không gian nhà, mục tiêu sử dụng là cho việc thờ cúng chứ không phải dùng để trang trí. Tranh chỉ được sử dụng khi làng bản, nhà có việc như cúng, lễ, đám ma. Không phải là tranh treo trên tường nhưng lại được ứng dụng rộng rãi, bản chất có đời sống thực được đẩy vào trong tranh nhiều hơn. Những bức tranh thờ còn lưu giữ cả những tàn hương cháy, có vết dầu mỡ, đời sống của người dân tộc quện vào bức tranh. Những tranh treo tường thì rách không sử dụng nữa nhưng tranh thờ thì khác, rách thì được bồi lại, dán lại. Đây là nét đặc trưng và khá riêng biệt của tranh thờ miền núi.

Tranh thờ miền núi phục vụ cho đời sống tâm linh của người dân tộc thiểu số ở các tỉnh miền núi phái Bắc nên màu sắc thường đậm, trầm, đặc trưng có những màu như đỏ, xanh lam, trắng, vàng. Tranh thờ miền núi được người dân lưu giữ khá cẩn thận. Ngày nay dù cuộc sống phát triển, nhưng dòng tranh thờ của người dân tộc thiểu số ở miền núi phái Bắc vẫn còn nguyên giá trị văn hoá.

Nguồn vov.vn

 

Tags:

Bài viết khác

Hải Phòng: Mâm bồng và lễ rước lão – nét đẹp văn hóa ở đình Tây

Mỗi mùa xuân về, lễ hội đình Tây không chỉ là dịp tưởng nhớ tiền nhân mà còn là không gian lưu giữ những giá trị văn hóa đặc sắc của làng quê Bắc Bộ. Trong đó, mâm bồng đầy sắc quả và nghi lễ rước lão vẫn lặng lẽ góp phần làm nên bản sắc riêng, gợi nhắc về một truyền thống lâu đời được gìn giữ qua nhiều thế hệ.

Ý nghĩa cây đào - quất - mai ngày Tết

Tết đến xuân về, người Việt thường mua đào, mai, quất về trưng bày cho ngôi nhà, mong muốn may mắn, phước lộc sẽ đến với mọi người trong gia đình. Tuy nhiên, không phải ai cũng biết hết ý nghĩa của các loài cây này, chỉ biết rằng, vào dịp Tết Nguyên Đán, việc trang trí ngôi nhà bằng những cành đào, cây quất, cây mai đã trở thành tục lệ, nét đẹp văn hóa của người dân Việt Nam.

Những tập tục kiêng kỵ ngày đầu xuân năm mới

Mong muốn gặp những điều tốt đẹp, may mắn, sung túc người Việt có những tập tục kiêng kỵ ngày đầu xuân năm mới: quét nhà, làm vỡ đồ đạc, đòi nợ, cãi nhau…

Quan niệm “mùng 1 Tết cha, mùng 2 Tết mẹ, mùng 3 Tết thầy” trong văn hóa người Việt

Quan niệm “mùng 1 Tết cha, mùng 2 Tết mẹ, mùng 3 Tết thầy” đã xuất hiện từ rất lâu trong văn hóa của người Việt, nhưng người ta không xác định được chính xác nguồn gốc của câu nói dân gian này. Trải qua hàng nghìn năm, câu nói dân gian “mùng 1 Tết cha, mùng 2 Tết mẹ, mùng 3 Tết thầy” đã trở thành một thành ngữ ăn sâu vào trong văn hóa truyền thống của người Việt Nam.

Tục tống cựu nghinh tân đón Tết của người Việt

Tống cựu nghinh (nghênh) tân vốn nghĩa là đưa cái cũ đi, đón cái mới đến, tống tiễn những khó khăn vất vả năm cũ và dành chỗ cho những may mắn tốt đẹp sắp đến trong năm mới.

Đi Lễ Chùa Đầu Năm - Nét Duyên Trong Phong Tục Ngày Tết

Trong đời sống văn hóa của người Á Đông nói chung và người Việt nói riêng thì đi lễ chùa đầu năm cầu may mắn, bình an là phong tục tập quán lâu đời. Mùa xuân là mùa sinh sôi nảy nở trong quan niệm, khởi đầu năm mới và gắn liền với tín ngưỡng của người Việt.

Phong tục truyền thống Đêm giao thừa

Giao thừa là thời khắc chuyển giao giữa năm cũ và năm mới, thời khắc trời đất giao hòa, âm dương hòa quyện để vạn vật bừng lên sức sống mới.

Nguồn gốc và ý nghĩa Tết Nguyên Đán

Tết đến xuân về không chỉ là niềm khao khát của biết bao đứa trẻ để được xúng xính quần áo mới, được ăn bánh mứt và nhất là được nhận lì xì mà nó còn mang một ý nghĩa vô cùng sâu sắc. Đó là điểm giao thời giữa năm cũ và năm mới, giữa một chu kỳ vận hành của đất trời, vạn vật cỏ cây.
Top