banner 728x90

Nhạc cụ truyền thống trong hát Chầu Văn

19/03/2025 Lượt xem: 4512

Hát Chầu văn hay còn được gọi là hát văn hay hát hầu đồng là một loại hình nghệ thuật ca hát cổ truyền và một phần tín ngưỡng thờ Mẫu của văn hóa Việt Nam. Đây là hình thức lễ nhạc gắn liền với nghi thức hầu đồng của tín ngưỡng Tứ phủ (tín ngưỡng thờ Mẫu) và tín ngưỡng thờ Đức Thánh Trần (Trần Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuần), một tín ngưỡng dân gian Việt Nam.

Thời kỳ thịnh vượng nhất của Chầu văn là vào khoảng cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20. Bằng cách sử dụng lời ca trau chuốt, nghiêm trang và âm nhạc mang tính tâm linh mà chầu văn được coi là hình thức âm nhạc mang  ý nghĩa hầu Thánh.

Hát Chầu Văn thể hiện khát vọng cao cả của con người hướng tới cái cao đẹp hơn, đó chính là nét cao quý và tinh túy nhất của Chầu văn. Yếu tố tâm linh thể hiện trong hát Văn ở nhiều mặt, không gian tâm linh, tâm linh trong gia đình, cá nhân, cộng đồng, ma chay, cưới xin.

Hát Chầu văn có nhiều hình thức khác nhau gồm: hát thờ, hát cửa đền, hát hầu, hát thi. Nhịp điệu và tiết tấu có chậm, vừa và nhanh. Bên cạnh những làn điệu có tiết tấu rõ ràng, tính chất âm nhạc trong sáng, đậm nét dân ca đồng bằng Bắc Bộ trong các điệu bồng mạc, sa mạc, cò lả…và âm hưởng của Ca trù trong các điệu bỉ, phú nói, phú bình, phú chênh, phú tỳ bà…cũng thể hiện rất rõ nét trong kết cấu giai điệu của âm nhạc trong hát Chầu văn.

Theo phân loại của nghệ nhân dựa trên thực tế, nhạc cụ cổ truyền của Việt Nam có 2 nhóm: Đàn (giai điệu) và nhạc cụ gõ (phách, cảnh, trống).

Về đàn

Giai điệu trong hát Chầu văn ban đầu chỉ có Đàn Nguyệt sau đó mới thêm vào một số đàn khác như thập lục, nhị, sáo,…
Nhạc cụ không thể thiếu trong hát văn chính là Đàn Nguyệt (trong Nam gọi là đàn kìm): Nguyệt có thể chơi trong các dàn nhạc bát âm hoặc dàn nhạc tài tử nhưng trong hát chầu văn đàn nguyệt thể hiện rõ bản sắc của nó nhất. Thậm chí có thể nói rằng đàn nguyệt là biểu tưởng của âm nhạc hát văn từ hơn một thế kỷ nay, âm thanh trầm và ấm khả năng biến tấu vô tận của đàn nguyệt là một đồng minh không thể thiếu cho cung văn hát văn chầu thánh. Các cụ thường giải thích tên đàn do bầu vang hình căng tròn.


Đàn Nguyệt không thể thiếu trong hát Chầu văn

Sáo là nhạc khí hơi được làm bằng ống trúc hoặc ống nứa già. Sáo có một huyệt thổi hình bầu dục được sử dụng phổ biến tại Việt Nam.
Đàn Tranh là nhạc khí dây gảy loại không có dọc (cần đàn), đàn Tranh rất phổ biến tại Việt Nam và một số nước Châu Á. Đàn Tranh được gia nhập vào Việt Nam và trở thành một nhạc khí trong hệ nhạc khí dân tộc, có nhiều tác giả cho rằng đàn Tranh được du nhập vào Việt Nam từ Trung Quốc với tên gọi ban đầu là cây Zeng.
Đàn Nhị là nhạc khí dây kéo (bằng cung vĩ) có ở Việt Nam hàng ngàn năm nay. Đàn Nhị còn có tên gọi là đàn Cò, là nhạc khí phổ biến của dân tộc Việt và nhiều dân tộc khác như dân tộc Mường, Tày, Thái, Giê Triêng, Khmer…
Kèn Bầu là nhạc khí hơi dăm kép, còn được gọi là kèn Già Nam, kèn Loa, kèn Bóp hay kèn Bát. Âm thanh kèn Bầu khỏe, vang, nhạc điệu mạnh thích hợp để thể hiện nhiều cung bậc cảm xúc.
Đàn Bầu còn gọi là đàn Độc huyền là loại đàn một dây của Dân tộc Việt và một số Dân tộc khác như Mường (Tàn Máng), dân tộc Chăm (Rabap Katoh). Với âm thanh mềm mại, ngọt ngào và sâu lắng đàn Bầu thường được sử dụng để độc tấu, đệm cho ngâm thơ, tham gia trong Ban nhạc Tài tử, Ban nhạc Xẩm. Gần đây, đàn Bầu tham gia trong dàn nhạc Dân tộc Tổng hợp, Dàn nhạc Giao hưởng Dân tộc, Dàn nhạc Sân khấu Chèo, Cải lương. Đặc biệt đã có tác phẩm viết cho Đàn Bầu độc tấu cùng với Dàn nhạc Giao hưởng.

Về nhạc cụ gõ

Phách là một tấm tre già (cũng có phách làm bằng gỗ) dài độ ba mươi phân, rộng bốn phân, dầy gần 2 phân, hai đầu phách có hai chân cũng làm bằng khúc tre ấy tạc liền khối. Phách còn được dùng trong ả đào.
Cảnh là 1 cái cồng rất nhỏ, như một chiếc đĩa hình tròn đường kính độ mươi mười năm phân có thành xung quanh, là một nhạc cụ mà các thầy cúng hay dùng. Hồi đó thầy Kiêm hay dùng một cái đĩa tráng men thay cảnh vì không muốn mang theo bằng chứng dụng cụ cúng bái theo người.


Nhạc cụ hát Chầu văn

Trống bản (hay còn gọi trống ban) là chiếc trống có hai mặt, kích thước tương đối nhỏ, đường kính từ hai mươi đến ba mươi phân. Mặt trống thường làm bằng da trâu, rất căng, lúc đánh tiếng tương đối căng: toong , toong. Còn loại thứ hai là trống chầu, đường kính nhỏ hơn trống ban nhưng cao hơn, âm hưởng trầm hơn, các cung văn có thể dùng một trong hai loại hoặc ca hai trong một buổi hầu đồng.
Thanh la là nhạc khí tự thân vang của dân tộc Việt, được làm bằng hợp kim đồng thiếc có pha chì, hình tròn. Thanh la có hình dáng như chiếc Cồng, Chiêng không có núm, mặt hơi phồng, có thành cạnh và không định âm. Cạnh Thanh la có dùi hai lỗ thủng để xỏ một sợi dây quai. Thanh la có nhiều cỡ to, nhỏ khác nhau, đường kính từ 15cm đến 25cm, dùi gõ Thanh la làm bằng gỗ hoặc tre tiện tròn, dài khoảng 20cm.
Tiu Cảnh – nhạc khí tự thân vang gõ do người Việt Nam chế tác. Tiu cảnh gồm hai chiếc Thanh la cỡ nhỏ làm bằng đồng thau, đường kính khoảng 10cm, một chiếc thành thấp, một chiếc thành cao, với hai âm thanh cao thấp với màu âm thánh thót, âm vang.
Trống Cái được chế tác bằng gỗ có đường kính lớn, được bịt da hai mặt, đường kính khoảng 40cm, 60cm đến dưới 1m. Tang trống cao khoảng 50cm, có 2 đai, có móc treo, mặt trống bằng da trâu hoặc da bò.
 là nhạc khí tự thân vang phổ biến tại Việt Nam, mõ thường được làm bằng gỗ với nhiều kích thước và kiểu dáng khác nhau.

Cung văn

Cung văn là người chuyên hát Chầu văn. Nhiệm vụ đầu tiên của cung văn là hát, nhưng vì mỗi buổi hầu thường kéo dài bốn năm tiếng nên vai trò các nhạc cụ cũng rất quan trọng. Một cung văn nổi tiếng à phải đạt được hai tiêu chuẩn Đàn hay Hát giỏi.
Cung văn thường để phách trước mặt, chiếc cảnh ở bên phải, và dùng ba chiếc que nhỏ để chơi: tay phải cầm que, một que kẹp giữa ngón cái và ngón chỏ, que thứ 2 kẹp giữa ngón giữa và ngón đeo nhân, còn tay trái cầm một que, cả ba cùng chơi một lúc tùy theo nhịp và hát.

Ban Nghiên cứu VHTN phía Nam

 

 

Tags:

Bài viết khác

Hải Phòng: Mâm bồng và lễ rước lão – nét đẹp văn hóa ở đình Tây

Mỗi mùa xuân về, lễ hội đình Tây không chỉ là dịp tưởng nhớ tiền nhân mà còn là không gian lưu giữ những giá trị văn hóa đặc sắc của làng quê Bắc Bộ. Trong đó, mâm bồng đầy sắc quả và nghi lễ rước lão vẫn lặng lẽ góp phần làm nên bản sắc riêng, gợi nhắc về một truyền thống lâu đời được gìn giữ qua nhiều thế hệ.

Ý nghĩa cây đào - quất - mai ngày Tết

Tết đến xuân về, người Việt thường mua đào, mai, quất về trưng bày cho ngôi nhà, mong muốn may mắn, phước lộc sẽ đến với mọi người trong gia đình. Tuy nhiên, không phải ai cũng biết hết ý nghĩa của các loài cây này, chỉ biết rằng, vào dịp Tết Nguyên Đán, việc trang trí ngôi nhà bằng những cành đào, cây quất, cây mai đã trở thành tục lệ, nét đẹp văn hóa của người dân Việt Nam.

Những tập tục kiêng kỵ ngày đầu xuân năm mới

Mong muốn gặp những điều tốt đẹp, may mắn, sung túc người Việt có những tập tục kiêng kỵ ngày đầu xuân năm mới: quét nhà, làm vỡ đồ đạc, đòi nợ, cãi nhau…

Quan niệm “mùng 1 Tết cha, mùng 2 Tết mẹ, mùng 3 Tết thầy” trong văn hóa người Việt

Quan niệm “mùng 1 Tết cha, mùng 2 Tết mẹ, mùng 3 Tết thầy” đã xuất hiện từ rất lâu trong văn hóa của người Việt, nhưng người ta không xác định được chính xác nguồn gốc của câu nói dân gian này. Trải qua hàng nghìn năm, câu nói dân gian “mùng 1 Tết cha, mùng 2 Tết mẹ, mùng 3 Tết thầy” đã trở thành một thành ngữ ăn sâu vào trong văn hóa truyền thống của người Việt Nam.

Tục tống cựu nghinh tân đón Tết của người Việt

Tống cựu nghinh (nghênh) tân vốn nghĩa là đưa cái cũ đi, đón cái mới đến, tống tiễn những khó khăn vất vả năm cũ và dành chỗ cho những may mắn tốt đẹp sắp đến trong năm mới.

Đi Lễ Chùa Đầu Năm - Nét Duyên Trong Phong Tục Ngày Tết

Trong đời sống văn hóa của người Á Đông nói chung và người Việt nói riêng thì đi lễ chùa đầu năm cầu may mắn, bình an là phong tục tập quán lâu đời. Mùa xuân là mùa sinh sôi nảy nở trong quan niệm, khởi đầu năm mới và gắn liền với tín ngưỡng của người Việt.

Phong tục truyền thống Đêm giao thừa

Giao thừa là thời khắc chuyển giao giữa năm cũ và năm mới, thời khắc trời đất giao hòa, âm dương hòa quyện để vạn vật bừng lên sức sống mới.

Nguồn gốc và ý nghĩa Tết Nguyên Đán

Tết đến xuân về không chỉ là niềm khao khát của biết bao đứa trẻ để được xúng xính quần áo mới, được ăn bánh mứt và nhất là được nhận lì xì mà nó còn mang một ý nghĩa vô cùng sâu sắc. Đó là điểm giao thời giữa năm cũ và năm mới, giữa một chu kỳ vận hành của đất trời, vạn vật cỏ cây.
Top