banner 728x90

Nguồn gốc tín ngưỡng thờ Mẫu Tam, Tứ Phủ

28/08/2024 Lượt xem: 5256

Thần linh chỉ trở thành linh thiêng khi được con người tín thờ, ngưỡng vọng, khi thần linh đó nảy sinh từ ngay chính nhu cầu và nguyện vọng thiết thân của con người, trong một hoàn cảnh xã hội nhất định của con người. Đừng đi tìm sự xác thực lịch sử ở các hiện tượng tôn giáo tín ngưỡng vì ở đó chỉ có sự xác tín. Mà với con người nhiều khi sự xác tín còn cao hơn và quan trọng hơn sự xác thực.

Những tư liệu thư tịch ghi chép về tín ngưỡng thờ Mẫu và nghi lễ Lên đồng còn lại quá ít ỏi. Trong “Thiền Uyển tập anh” nói về nhà sư Khánh Hỷ thời Lý Thần Tông (trụ trì ở chùa Từ Liêm, mất năm 1135), khi cùng thầy đến nhà thí chủ, Khánh Hỷ hỏi thầy rằng “ý nghĩa của Tố Thiền là thế nào mà thầy đến nhà dân nghe đồng cốt?”. Bản tịch trả lời “Hỏi như vậy chẳng hóa ra đồng cốt giáng thần à?”.

Điện thờ Tam phủ

Tư  liệu mô tả ít ỏi về “đồng cốt” trong “Thiền Uyển tập anh” nêu trên thật khó xác định đó là tục “đồng cốt” nói chung (với các dạng “đồng thiếp”, “đồng nồi”, “đồng cối”…) hay là tục Lên đồng (cũng gọi là đồng cốt) của tín ngưỡng thờ Mẫu Tam, Tứ phủ. Theo quan niệm khá phổ biến hiện nay thì tín ngưỡng thờ Mẫu Tam, Tứ phủ với nghi thức Lên đồng chỉ xuất hiện từ sau thế kỷ XV với sự xuất hiện của Thánh Mẫu Liễu Hạnh.

Ca dao thời Lê (hậu Lê) mà sau này được ghi lại trong “Nam Phong giải trào” cũng có những câu nhắc tới hiện tượng đồng cốt:

“Bà cốt đánh trống long bong

Nhảy lên nhay xuống cái ong đốt…”

Thượng Kinh ký sự thời Lê của Lê Hữu Trác có kể lại một buổi ngồi đồng. Năm 1781, ông từ Thanh Hóa ra Thăng Long, qua xã Kim Khê nghỉ lại và được mời dự buổi lên đồng: “Tôi nghỉ ở trạm Kim Khê quan văn thư làm lễ vào yết miếu làng ấy, ông có đặt một tiệc hát và cho mời tôi thấy một “cô đồng” đang hầu giá nhà Thánh vua đảo vừa nói lảm nhảm. Có người bảo tôi rằng Thánh Mẫu ở đây linh ứng lắm, cụ vào kinh, có muốn việc gì thì cứ kêu ngài. Tôi trả lời rằng, phàm ai cũng cần lấy cái sở đắc, chứ có ai cầu cái sở thất, bụng tôi không nguyện đắc cái gì thì cầu làm chi. Cô đồng nghe tủm tỉm cười, quan văn thư cũng trông tôi cả cười”.

Những tư liệu trích dẫn trên từ thế kỷ XII (thời Lý) đến thế kỷ XVIII (hậu Lê) cho ta thấy ở người Việt có tục “đồng cốt”, đặc biệt thời hậu Lê (qua Nam phong giải trào), còn mô tả kỹ hơn là “Bà cốt” (Bà đồng) vừa nhảy đồng vừa gõ trống. Còn trong tư liệu mô tả của Lê Hữu Trác (1781) thì thực sự là một cuộc Lên đồng của tín ngưỡng thờ Mẫu Tứ phủ. Cũng cần nói thêm rằng việc bà cốt vừa nhảy đồng vừa gõ trống là hiện tượng ngày nay không thấy nữa, vì gõ trống, đàn hát bây giờ là do cung văn đảm nhiệm. Tuy nhiên, việc bà đồng vừa nhảy vừa múa vừa gõ trống thì lại là hiện tượng phổ biến hiện nay của các thầy Shaman của các dân tộc trên thế giới. Như vậy, ít nhất cho tới thời hậu Lê (Lê Chiêu Thống) hiện tượng bà đồng vừa nhảy múa vừa chơi nhạc (gõ trống) vẫn phổ biến ở người Việt.

Tín ngưỡng thờ Tam Tứ Phủ của người Việt

Theo sự tích và huyền thoại được ghi chép trong bi ký và sách Hán Nôm, đặc biệt là sách Vân Cát thần nữ của nữ sĩ Hồng Hà Đoàn Thị Điểm thì thân chủ của tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ là Công chúa Liễu Hạnh con vua Ngọc Hoàng do mắc lỗi đánh vỡ chén ngọc trong Hội Vườn đào nên đã 3 lần giáng trần. Lần thứ nhất, từ năm 1434-1473 Công chúa Liễu Hạnh giáng sinh vào nhà họ Phạm tại thôn Vỉ Nhuế, xã Trần Xá, huyện Đại An (Ý Yên) tỉnh Nam Định. Lần thứ hai, từ năm 1557-1577, giáng sinh vào nhà họ Lê tại làng Vân Cát, lấy chồng họ Trần (xã An Thái, huyện Thiên Bản, tức Vụ Bản, Nam Định ngày nay). Lần thứ ba, từ năm 1609-1610, công chúa giáng trần vào nhà học Hoàng lấy chồng là Mai Sinh ở làng Tây Mỗ, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Với ba lần giáng sinh (tam hóa tam sinh) Tiên Chúa Liễu Hạnh đều hiện thân là người phụ nữ tài danh, công dung ngôn hạnh, giúp dân mở mang nghề nghiệp, xây chùa đi tu, khi hóa được nhân dân khắp nơi thờ phụng để ghi nhớ công đức của Tiên Chúa.

Sau ba lần “Tam sinh tam hóa” kể trên, Liễu Hạnh công chúa chu du khắp nơi. Từ Lạng Sơn, Tây Hồ (Hà Nội), Đèo Ngang, Phố Cát, Sòng Sơn…. đã từng chống lại các pháp sư dòng Nội Đạo của vua Lê – chúa Trịnh, sau cùng được Phật Quan Âm giáo hóa quy y, vua Lê phong Thánh, trở thành vị thần chủ Mẫu Tam, Tứ phủ.

Ban Nghiên cứu VHTN phía Nam

 

Tags:

Bài viết khác

Hải Phòng: Mâm bồng và lễ rước lão – nét đẹp văn hóa ở đình Tây

Mỗi mùa xuân về, lễ hội đình Tây không chỉ là dịp tưởng nhớ tiền nhân mà còn là không gian lưu giữ những giá trị văn hóa đặc sắc của làng quê Bắc Bộ. Trong đó, mâm bồng đầy sắc quả và nghi lễ rước lão vẫn lặng lẽ góp phần làm nên bản sắc riêng, gợi nhắc về một truyền thống lâu đời được gìn giữ qua nhiều thế hệ.

Ý nghĩa cây đào - quất - mai ngày Tết

Tết đến xuân về, người Việt thường mua đào, mai, quất về trưng bày cho ngôi nhà, mong muốn may mắn, phước lộc sẽ đến với mọi người trong gia đình. Tuy nhiên, không phải ai cũng biết hết ý nghĩa của các loài cây này, chỉ biết rằng, vào dịp Tết Nguyên Đán, việc trang trí ngôi nhà bằng những cành đào, cây quất, cây mai đã trở thành tục lệ, nét đẹp văn hóa của người dân Việt Nam.

Những tập tục kiêng kỵ ngày đầu xuân năm mới

Mong muốn gặp những điều tốt đẹp, may mắn, sung túc người Việt có những tập tục kiêng kỵ ngày đầu xuân năm mới: quét nhà, làm vỡ đồ đạc, đòi nợ, cãi nhau…

Quan niệm “mùng 1 Tết cha, mùng 2 Tết mẹ, mùng 3 Tết thầy” trong văn hóa người Việt

Quan niệm “mùng 1 Tết cha, mùng 2 Tết mẹ, mùng 3 Tết thầy” đã xuất hiện từ rất lâu trong văn hóa của người Việt, nhưng người ta không xác định được chính xác nguồn gốc của câu nói dân gian này. Trải qua hàng nghìn năm, câu nói dân gian “mùng 1 Tết cha, mùng 2 Tết mẹ, mùng 3 Tết thầy” đã trở thành một thành ngữ ăn sâu vào trong văn hóa truyền thống của người Việt Nam.

Tục tống cựu nghinh tân đón Tết của người Việt

Tống cựu nghinh (nghênh) tân vốn nghĩa là đưa cái cũ đi, đón cái mới đến, tống tiễn những khó khăn vất vả năm cũ và dành chỗ cho những may mắn tốt đẹp sắp đến trong năm mới.

Đi Lễ Chùa Đầu Năm - Nét Duyên Trong Phong Tục Ngày Tết

Trong đời sống văn hóa của người Á Đông nói chung và người Việt nói riêng thì đi lễ chùa đầu năm cầu may mắn, bình an là phong tục tập quán lâu đời. Mùa xuân là mùa sinh sôi nảy nở trong quan niệm, khởi đầu năm mới và gắn liền với tín ngưỡng của người Việt.

Phong tục truyền thống Đêm giao thừa

Giao thừa là thời khắc chuyển giao giữa năm cũ và năm mới, thời khắc trời đất giao hòa, âm dương hòa quyện để vạn vật bừng lên sức sống mới.

Nguồn gốc và ý nghĩa Tết Nguyên Đán

Tết đến xuân về không chỉ là niềm khao khát của biết bao đứa trẻ để được xúng xính quần áo mới, được ăn bánh mứt và nhất là được nhận lì xì mà nó còn mang một ý nghĩa vô cùng sâu sắc. Đó là điểm giao thời giữa năm cũ và năm mới, giữa một chu kỳ vận hành của đất trời, vạn vật cỏ cây.
Top