banner 728x90

Nét đặc trưng trong dân ca dân tộc Mông

13/11/2024 Lượt xem: 3442

Đồng bào dân tộc Mông vốn có văn hóa rất đặc sắc. Trong đó, dân ca là một nét văn hóa đặc trưng không thể không nhắc tới. Những tiếng hát dân ca từ bao đời nay vẫn được cất lên mỗi dịp sum vầy hay chia xa, lúc vui hay lúc buồn, thay cho tiếng lòng vời vợi chất chứa bao nỗi niềm và cảm xúc của mỗi người.

Dân ca dân tộc Mông là chất liệu quý cho các sáng tác ca khúc hiện đại.

Dân ca dân tộc Mông rất muôn màu và đa sắc thái, mang đến cho người nghe những cảm nhận đặc biệt về thanh âm, luyến láy cùng nội dung phong phú. Mỗi lời hát cất lên gửi gắm trong đó bao xúc cảm, tâm tình, là tiếng lòng của người hát thể hiện qua câu chữ kết hợp với âm điệu. Dân ca Mông được chia thành 5 tiếng hát: tiếng hát tình yêu “gầu plềnh”, tiếng hát cưới xin “gầu xống”, tiếng hát làm dâu “gầu ua nhéng”, tiếng hát mồ côi “gầu tú giua”, tiếng hát cúng “gầu tùa”. Mỗi làn điệu được dùng cho những ngữ cảnh khác nhau với những cách thể hiện, diễn xướng và nội dung khác nhau. Trong số đó “gầu ua nhéng” có lẽ là làn điệu được biết đến nhiều hơn cả gắn với tác phẩm văn học dân gian “Tiếng hát làm dâu”, với những câu hát rất chân thật: “Em đang ở nhà em không biết/Nhà trai sang la liệt dù, ô/Dù, ô đã ngoắc cột nhà/ Thế là thành vợ, thế là làm dâu”.

Đồng bào dân tộc Mông thể hiện các làn điệu dân ca, dân vũ trong các dịp lễ hội.

Nội dung các lời hát dân ca luôn được lấy từ chính cuộc sống thường ngày, phản ánh chân thực về con người, công việc, về tình yêu, tình thân, về đời sống, những lời răn dạy con cháu... Câu từ dân ca dân tộc Mông đơn giản, chân chất như chính con người miền núi, nhưng rất gần gũi và sâu sắc về ý nghĩa. Trong đó phải kể đến thể loại “gầu plềnh”, làn điệu có nội dung thể hiện rất đa dạng. “Gầu plềnh” có nhiều dạng, vừa là những câu hát giao duyên nam nữ, vừa là những lời ca thể hiện tiếng lòng thương nhớ của đôi bên, hay đơn giản là những khúc hát trữ tình nói về tình yêu, hôn nhân vợ chồng. Những câu hát được lưu truyền bao đời nay với ca từ giản dị mà giàu hình ảnh, thấm đẫm cảm xúc như: “Em nắm tay anh nắm cho vững/ Anh cầm tay em cầm cho chặt/ Ta yêu nhau đằm thắm như khóm ngải xanh tươi”.

Còn tiếng hát cưới xin “gầu xống” và tiếng hát cúng “gầu tùa” lại là một phần quan trọng trong những nghi lễ truyền thống của đồng bào. Những câu hát là lời mở đầu cho câu chuyện trăm năm với những câu từ mộc mạc mà chân thành: “Ông (bà) mối tôi xin thưa/Con gái lớn biết vỡ đám ruộng hoang/Con trai lớn biết vỡ thửa ruộng rậm/Trai lớn biết dựng nhà/Mối mai tôi xin bày tỏ...”. Vẫn cách thể hiện ấy, câu hát còn là một phần không thể thiếu để thay lời thưa với gia tiên, thần linh trong những lễ cúng gia đình, cúng dòng họ, lễ cầu mùa cho làng bản. Câu hát cũng là lời tiễn biệt của người ở lại gửi đến người đã khuất núi. Những dạng dân ca này xuất hiện thường xuyên trong đời sống của đồng bào dân tộc Mông, cho đến nay vẫn được nhiều nơi gìn giữ. Dân ca Mông đặc biệt còn có tiếng hát mồ côi hay tiếng hát than thân “gầu tú giua” là một dạng dân ca mang đặc trưng riêng của dân tộc Mông. Xuất phát từ chính hiện thực cuộc sống, “gầu tú giua” là tiếng hát than thân của những người yếu thế mà chủ yếu là phụ nữ, những người bị hủ tục chèn ép và không được coi trọng trong xã hội cũ trước đây.

Theo Báo Sơn la

 

 

Tags:

Bài viết khác

Hoa ban – biểu tượng văn hóa của núi rừng Tây Bắc

Đến Tây Bắc vào những ngày mùa xuân, người ta dễ dàng cảm nhận một hương sắc rất riêng của núi rừng. Đó là hương của đất trời, của những triền đồi và của mùa hoa ban nở trắng mỗi độ tháng Ba về.

Tục Mừng tuổi ngày Tết

Tục mừng tuổi đã là một phần không thể tách rời của văn hóa người Việt trong suốt lịch sử. Nó gắn liền với những ước vọng tốt đẹp trong ngày đầu xuân năm mới, truyền tải những lời chúc may mắn, sức khỏe và thành công cho mọi người

Mâm ngũ quả trong văn hóa 3 miền Bắc – Trung - Nam

Bên cạnh các món ăn truyền thống, mâm ngũ quả là một phần không thể thiếu trong ngày tết cổ truyền của người Việt Nam. Trước là thờ cúng tổ tiên, sau là ước mong năm mới được an khang, thịnh vượng hơn năm trước. Theo thời gian, dù có nhiều thay đổi về văn hoá nhưng tập tục này vẫn lưu truyền trong gia đình Việt bởi ý nghĩa nhân văn của nó.

Các loại bánh truyền thống trong mâm cỗ Tết Việt

Bánh là một trong những món ăn không thể thiếu của ngày Tết cổ truyền ở Việt Nam. Tùy theo từng vùng miền sẽ có loại bánh biểu tượng riêng và mang những ý nghĩa vô cùng đặc biệt.

Phong tục Tết Việt Nam

Lễ tết là một bộ phận đời sống văn hóa tinh thần quan trọng của văn hóa truyền thống Việt Nam. Lễ Tết thường tập trung vào thời điểm đầu năm, phù hợp với thời tiết và thời vụ vì thế nó ăn sâu vào ý thức dân tộc. Tuy các nhà nghiên cứu đều cho rằng nghi thức Lễ Tết Việt Nam đều xuất xứ từ Trung Hoa, nhưng thực chất thì phong cách, tâm hồn và truyền thống đều thể hiện rõ bản sắc Việt Nam.

Giá trị của chén nước chấm trong văn hóa ẩm thực Việt

Trong ký ức của nhiều người Việt, mâm cơm gia đình luôn hiện lên với một hình ảnh rất quen thuộc: mâm tròn, những đĩa thức ăn bày biện gọn gàng và ở chính giữa là một bát nước chấm nhỏ. Chỉ một chi tiết giản dị ấy thôi nhưng lại chứa đựng cả một lớp văn hóa sâu dày của đời sống người Việt.

Bánh tét - Hương vị ngày Tết cổ Truyền

Bánh Tét có nguồn gốc từ sự giao thoa văn hóa giữa Việt và Chăm-pa, mang ý nghĩa về tình thân và sự đoàn kết gia đình. Nó biểu trưng cho sự bảo vệ, yêu thương trong các mối quan hệ.

Tết trên “mái nhà trôi”: Sắc xuân và mạch ngầm tín ngưỡng ở Chợ nổi Cái Răng

Những ngày cuối năm, khi sương sớm còn giăng mỏng trên mặt sông, chợ nổi Cái Răng (TP. Cần Thơ) đã rộn ràng tiếng máy ghe, tiếng gọi nhau í ới của người mua kẻ bán. Cả khúc sông như khoác lên mình tấm áo mới rực rỡ sắc hoa, sắc trái cây, báo hiệu mùa Tết đang cận kề.
Top