banner 728x90

Khái quát về các tông phái trong Phật giáo

14/03/2025 Lượt xem: 2938

Trong Phật giáo ngày nay có 11 tông phái chính thức đang hoằng pháp.

Trong Phật giáo có hai tông phái lớn là Tiểu thừa và Đại thừa 

Sau khi Phật nhập Niết Bàn một trăm ngày, có 500 vị Thượng Toạ trưởng lão (Sthavias) tổ chức cuộc kết tập lần đầu trong hang Saltapanni rừng nigradha cử Tôn giả Ma Ha Ca Diếp làm Thủ tọa, ngài A Nan trùng tuyên những lời Phật dạy làm thành tạnh kinh, cử Ngài Ưu Ba Li đọc lại các điều răn của Phật để kết tập Luật tạng, tôn giả đại Ca Diếp đứng đầu coi việc giải thích đạo lý trong Kinh, làm thành bộ Luận tạng. Gọi chung là Tam Tạng ( Tripitaka ).

Một trăm năm sau, trong giáo đoàn có sự tranh luận về cách giữ giới luật và cách hành đạo. Các vị trưởng lão Thượng toạ triệu tập cuộc kết tập lần thứ hai ở thành Xá Vệ, đề cử Thượng Toạ Yaca làm Thủ toạ. Kết quả phái Thượng toạ trưởng lão vẫn giữ phương thức bảo thủ, phái đại chúng giữ phương thức Tiến Thủ. Nhưng cả hai không rời tôn chỉ của Phật.

Vào khoảng 200 năm sau Phật nhập diệt, vua Asoka ( ADục Vương 227 – 274 trước Tây lịch ) triệu tập cuộc kết tập lần thứ ba ở thành Pataliputra.

Vào khoảng 500 năm sau Phật nhập diệt ( thế kỷ I sau Tây Lịch ) vua xứ Nhục Chi là Kanisnka, giữ bá quyền vùng Tây Bắc Ấn Độ, rất sùng đạo, triệu tập cuộc kết tập lần thứ tư ở thành Jalandhara, do hai Thượng Toạ Pârcya và Vasumitra làm Thủ toạ, đây là cuộc kết tập lần cuối cùng.

Từ đó trong Phật giáo có hai tông phái lớn là : Tiểu Thừa và Đại Thừa, hai bên tuy phân biệt ra như thế nhưng vẫn theo tôn chỉ của Phật. Đại Thừa thì theo tinh thần Phật dạy mà tiến hóa hợp hợp khế cơ. Tiểu Thừa thì một mực trì thủ lời Phật trong các kinh chứ không thay đổi.

Hai tông có trong cả tiểu thừa và đại thừa 

1. Luật tông

Tông này lấy giới luật làm căn bản. Đến đời Đường, Ngài Trí Thủ luận sư chú giải những bộ luật ( Thập tụng luật, Tứ phần luật, Ngũ phần luật, Tăng kỷ luật ) và đệ tử của Ngài, Đạo Tuyên luận sư nhận thấy có 68 bộ Luật tứ phần hợp với căn cơ của người Trung Hoa nên đã căn cứ vào bộ luật nầy mà lập “ Luật tông ”.

Luật tông chủ trương lấy tu rồi sẽ hiểu, hãy giữ giới cho nghiêm tịnh thì tâm sẽ định tĩnh thanh tịnh và trí tuệ sẽ phát sinh, chân tâm sẽ hiễn bày, Phật tánh sẽ hiễn lộ.

2. Thiền Tông

Tông nầy nguyên thuỷ thuộc về Không Bộ bên Tiểu Thừa. Thiền Tông không bàn luận về vũ trụ, căn bản là ngộ đạo mà thôi ( giải thoát ), là một tông phái lấy tham thiền nhập định làm căn bản tu hành.

Thiền Tông chủ trương “ bất lập văn tự ”, chỉ cốt “ tâm truyền tâm ”, thực tướng của vũ trụ thuộc về trực giác. Nếu lấy văn tự mà giải thích thì tất cả sa vào hiện tượng giới, không thể đạt tới thực tướng được. Phi tọa thiền và trực giác thì không sao biết được thực tướng.

Hai tông phái tiểu thừa:

1. Câu Xá Tông

Do ngài Thế Thân Bồ Tát lấy ý nghĩa trong kinh Đại Tỳ Bà Sa ( Mahahvibhasacastra ) viết thành bộ Câu Xá Luận, được Ngài Trần Châu dịch rồi truyền sang Trung Hoa rất sớm nhung sau đó thất truyền. Đến khi Ngài Huyền Trang sau chuyến Tây du thỉnh kinh mới đem về dịch lại bộ luật này, rồi đệ tử Ngài là Phổ Quang dựa vào mà làm nên “ Câu Xá thuật ký ” và Ngài Pháp Bảo làm bộ “ Câu Xá luận sớ ” thì Câu xá mới thành một tông phái là Tông Câu Xá nhưng chỉ thịnh hành đến cuối thế kỷ thứ IX thì suy vong và nhường chỗ cho các tông phái Đại thừa.

Câu Xá Tông chia vạn hữu ra thành Vô Vi Pháp và Hữu Vi Pháp. Vô Vi Pháp chỉ về cảnh giới thường trụ không sinh không diệt, tức là lý thể. Hữu Vi Pháp chỉ về vạn hữu trong hiện tượng giới sinh diệt vô thường.

Căn bản giải thoát dùng Giới, Định, Tuệ để hiểu rõ lý nhân quả của Tứ Diệu Đế. Dùng tam học ấy mà đi tới giải thoát tức là vào Niết bàn.

2. Thành Thực Tông

Tông này đồng thời với Câu Xá Tông, do ngài Ha Lê Bạt Ma ( Harivarma ) y vào ý nghĩa Bộ Thành Thật Luận mà lập ra vào khoảng 900 năm sau khi Đức Phật nhập diệt.

Thành Thực Tông chia thế giới quan ra làm hai môn : Thế giới môn và đệ nhất nghĩa môn.

Tông này chủ trương “ Nhân không và Pháp không ”. Người và Pháp cả hai đều không. Thi hành Diệt đế, chân lý thứ 3 trong Tứ Diệu đế cũng đủ an lạc, giải thoát lục đạo.

Ảnh minh họa.

Sáu tông đại thừa:

1. Pháp Tướng tông

Tông này lấy Thành Duy Thức Luận làm gốc, tại Ấn độ do Ngài Thế Thân phát triển và tại Trung Hoa do Ngài Huyền Trang truyền bá sau chuyến Tây du thỉnh kinh trở về.

Chủ trương vạn Pháp đều do thức biến ra. ( Tam giới duy tâm, vạn Pháp duy thức ) Thức có 8 : Nhãn Thức, Nhĩ Thức, Tỷ Thức, Thiệt Thức, Thân Thức, Ý Thức, Mạt Na Thức. Trong 8 thức thì A Lại Gia Thức là căn bản, vì chứa hết thảy Chủng Tử để sinh khởi nhất thiết chư Pháp.

2. Tam Luận Tông

Tông này lấy Trung Luận và Thập Nhị Môn Luận của Ngài Long Thọ Bồ Tát và Bách Luận của Ngài Đề Bà làm căn bản, chủ trương là phá chấp nêu bày chánh lý với phương pháp tu hành là phá sự chấp trước của ngọai đạo để chứng ngộ chân lý bằng cách quán pháp “ Bát bất trung đạo ”.

Về phương diện đạo lý, Tam Luận tông giống như cửa ải muốn tiến bước trên con đường giải thoát phải buông bỏ “ Chấp trước ”, nếu không muốn bị phát hiện món hàng quốc cấm đó khi qua ải.

3. Thiên Thai Tông ( Pháp hoa tông )

Tông này khởi phát ở Trung Hoa, do ngài Huệ Văn Thiền Sư đời Trần và đời Tuỳ ( vào khoảng thế kỷ thứ 6 ) theo ý nghĩa bộ Trí Độ Luận tức là Bát Nhã Ba La Mật Đa luận và lấy Pháp Hoa Kinh làm gốc, nên còn gọi là Pháp Hoa Tông.

Thiên Thai chủ trương thuyết “ Chư Pháp duy nhất tâm ”. Tâm ấy tức là chúng sanh, tâm ấy tức là Bồ Tát, Phật sinh tử hay Niết Bàn cũng ở nơi tâm ấy. Khi đã thấu suốt chân lý là chân lý là giải thoát lý chấp trước. Cuối cùng phải triệt ngộ thật tướng của vũ trụ. Do vô vi, do niệm đạt tới sự hoạt động của đại ngã, đại vi.

4. Hoa Nghiêm Tông ( hay Hiền Thủ tông )

Tông này cũng phát khởi ở Trung Hoa căn cứ ở Hoa Nghiêm Kinh do Đỗ Thuận và Trí Nghiêm Hoà Thượng ở đời Tuỳ và Đường lập ra, người có công kế thưà và xiển dương là là Ngài Pháp tạng còn gọi là Hiền Thủ.

Tông này theo chủ trương “ Pháp giới duyên khởi ” Vạn hữu có tam đối lục tướng là do thập huyền môn, thập huyền diệu, lý duyên khởi và lục tướng viên dung mà phát sinh lý “ Sự sự vô ngại ”. Đây là cái đặc sắc của giáo lý Hoa Nghiêm Tông.

Theo Tông này thì phân biệt chân vọng dứt trừ điên đảo. Để tâm thanh tịnh cùng thực tại Nhất Như là giải thoát.

Ảnh minh họa.

5. Mật tông ( hay Chân Ngôn Tông )

Tông này căn cứ ở Đại Nhật Kinh, lấy bí mật Chân Ngôn làm Tông chỉ, nên cũng gọi là Mật Tông.

Đại Nhật Như Lai truyền cho Kim Cương Tát Đỏa, Kim Cương Tát Đỏa truyền cho Long Trí, Long Trí truyền cho Kim Cương trí, Kim Cương Trí cùng với Bất Không đem qua trung Hoa vào khoảng đời Đường. Chân Ngôn Tông chủ trương thuyết Lục đại : Địa, Thủy, Hỏa, Phong, Không, Thức. Cho lục đại là thực của vũ trụ.

Sự giải thoát của Tông nầy là do tự thân thành Phật, cho nên bỏ hết chấp trước mà theo cái hoạt động của Đại ngã với phương thức Tam mật ( Thân, Khẩu, Ý ).

6. Tịnh Độ Tông

Tông nầy lấy việc quy y tịnh độ làm mục đích, chuyên trì tụng các kinh Vô Lượng Thọ, Quán Vô Lượng Thọ, A Di Đà. Tịnh Độ Tông phát khởi từ đời nào không rõ, chỉ thấy trong kinh điển ghi các vị Bồ Tát Long Thọ, Mã Minh, Thế Thân khuyên mọi người nên tu Tịnh Độ. Tịnh Độ Tông cho rằng mỗi người ai cũng có Phật tính, đều có thể thành Phật, vì ở thế gian phiền não nên cầu về cõi Cực Lạc Tây Phương. Vì tự lực khó đạt nên cầu tha lực Đức Phật A Di Đà.

S.T

 

 

Tags:

Bài viết khác

Tượng Tuyết Sơn - những bảo vật vô giá dưới mái chùa Việt

Cùng với quá trình phát triển lâu dài của Phật giáo, tại Việt Nam, đặc biệt là ở khu vực đồng bằng Bắc bộ, một số loại hình nghệ thuật như kiến trúc chùa chiền, điêu khắc tượng vũ cũng phát triển đặc sắc. Đặc biệt, đối với việc điêu khắc tượng Phật, tượng Tuyết Sơn có một vị trí đáng kể về nhiều phương diện.

Lễ hằng thuận trong Phật giáo – một hình thức giáo dục đời sống và hạnh phúc gia đình hiệu quả đối với thế hệ trẻ hiện nay

Với tinh thần từ bi và trí tuệ, giáo lý nhà Phật nhằm giúp mỗi cá nhân thấu hiểu lẽ thật về cuộc sống, con người và thế giới thông qua lý Duyên khởi, biết tôn trọng và chịu trách nhiệm với chính mình cũng như mọi người, mọi loài thông qua lý Nhân quả… Từ đó, con người có được cuộc sống lành mạnh, hài hòa, cân bằng giữa vật chất và tinh thần thông qua các phương pháp thực hành đơn giản, cụ thể như: Niệm Phật, tọa thiền, kinh hành, lễ sám…

Phật giáo trong thời đại khoa học

Đạo Phật là chiếc cầu nối giữa những tư tưởng tôn giáo và khoa học bằng cách khích lệ con người khám phá những tiềm năng ngủ ngầm trong chính bản thân và môi trường chung quanh họ. Đạo Phật là muôn thuở!

Văn học Phật giáo trong đời sống hiện đại

Văn học Phật giáo trong đời sống hiện đại không chỉ là sự tiếp nối truyền thống, mà còn là một nguồn lực tinh thần quan trọng, góp phần xây dựng con người và xã hội theo hướng nhân văn, lành mạnh và bền vững.

Thiền phái Tào Động ở miền Bắc Việt Nam với những đóng góp cho đạo pháp và dân tộc

Sau khi đệ nhất Tổ sư Thiền phái Tào Động – ngài Thủy Nguyệt truyền vào xứ Đàng Ngoài, đệ nhị Tổ Tông Diễn đã khai hóa triều đình, giải trừ ách nạn của Phật giáo thời nhà Lê ở xứ Đàng Ngoài. Đến nay, thiền phái Tào Động dần thâm nhập vào mọi tầng lớp dân chúng, mở ra lối sống chân thật trong cuộc sống. Trải qua các đời truyền thừa, thiền phái Tào Động đã đóng góp nguồn nhân lực cho Phật giáo Việt Nam, tham gia vào công tác giáo dục, đào tạo tăng tài, giữ gìn giềng mối Phật pháp.

Hiếu là cội nguồn của đạo làm người

Trong lịch sử văn hóa Việt Nam, hiếu không chỉ là một đức tính căn bản mà còn là nền tảng để xây dựng nhân cách, gia đình và xã hội. Vào thế kỷ II, khi Phật giáo du nhập vào Giao Châu, Mâu Tử đã soạn Lý hoặc luận để giải trừ nghi hoặc với giới Nho sĩ và Đạo gia về Phật giáo.

Tình và Trí

Tình cảm và lý trí khó có thể tồn tại đồng thời một cách trọn vẹn, viên mãn. Những người làm đầu ngành kinh tế, lãnh đạo hoặc khoa học bận để tâm trí và thời gian vào chuyên môn cho nên thường phải hy sinh hạnh phúc riêng gia đình.

Kỳ Lân – Linh Vật Thiêng Liêng Trong Phật Giáo

Trong văn hóa Á Đông, kỳ lân là một trong tứ linh Long – Lân – Quy – Phụng, tượng trưng cho điềm lành, trí tuệ và sự thịnh vượng. Riêng trong Phật giáo, kỳ lân được tôn kính không chỉ bởi hình ảnh huyền thoại mà còn bởi ý nghĩa tâm linh sâu sắc, biểu trưng cho lòng từ bi, chính nghĩa và trí huệ.
Top