banner 728x90

Hình tượng chim hạc trong đời sống tâm linh người Việt

30/10/2024 Lượt xem: 4772

Chim Hạc với hình ảnh nhẹ nhàng, tinh tế uyển chuyển là biểu trưng cho điềm lành, thanh cao thoát tục, trường thọ và hạnh phúc. Người dân dùng hình tượng Hạc để biểu thị mong ước ấm êm, gia đình vui vẻ.

Tranh vẽ đôi chim Hạc - biểu trưng cho hạnh phúc trường tồn

Hình tượng loài chim Hạc ảnh hưởng sâu sắc bởi văn hóa phương Đông và mang nhiều ý nghĩa về sự thanh cao. Hạc, còn gọi là Tiên Hạc, đứng đầu trong họ lông vũ còn gọi là đại điểu hay nhất phẩm điểu có tính cách của người quân tử. Hạc là con chim của vũ trụ, của tầng cao, bất tử và đại diện cho thế lực thiên nhiên.

Loài hạc có bộ lông màu đen tuyền hoặc trắng muốt. Truyền thuyết nói rằng, hạc là chim tiên sống lâu. Trong Bát vật thì Hạc được thể hiện bằng hình hạc đứng trên lưng rùa thường để trên bàn thờ, đình, chùa, hạc đội đầu hoặc mỏ ngậm một cái đế để cắm nến.

Hạc là con chim hình dáng gần giống như loại sếu nên được thần thoại hóa và mật thiết quan hệ đến tín ngưỡng, biểu hiện của sự hài hòa giữa trời và đất, giữa âm và dương.

Theo quan niệm của người phương Đông cổ đại, sếu là biểu tượng của linh hồn người đã mất. Ở châu Á, nhất là Trung Quốc và Nhật Bản, mọi người xem sếu đỉnh đầu đỏ là biểu tượng của sự may mắn, trường thọ và tính trung thực.

Trong nghệ thuật tạo hình, chim Hạc thường được quan sát đầu tiên. Người ta nhìn hình ảnh của nó mà thưởng thức, phối cảnh của bức họa mà đánh giá tổng thể nội dung và hàm ý của bức họa, các vương hầu muốn cống tiến vật phẩm cho hoàng đế để lấy lòng tin thường sử dụng biểu tượng chim hạc, được gọi là “nhất điểu phẩm” hay là “nhất phẩm đương triều”.

Hạc còn được dùng để ví với những người ưu tú nên sắc lệnh chiêu mộ hiền sỹ còn được gọi là “hạc bản”. Những thứ trên “hạc bản” được gọi là hạc thư hoặc hạc đầu thư”, những người tu hành và cảnh giới thoát tục, trí tuệ khai thông được gọi là “hạc minh chi sĩ”.

Trong nghệ thuật chạm khắc, Hạc cũng thường xuất hiện với gắn liền với cây tùng nên được gọi là hạc tùng. Nó trở thành biểu tượng cho sự cao sang - an lạc, khí chất trường thọ, bản lĩnh trước nỗi trầm luân. Khi người ta khắc họa tùng và hạc thì bức tranh lập tức minh chứng cho chí khí, cốt cách của người quân tử, là sự trường tồn bền vững, là khao khát sải cánh giữa không trung và là dũng khí đương đầu với gian truân, thử thách. Hay hình ảnh chim hạc đứng trên mỏm đá với sự bề thế cùng cây tùng gọi là hạc - thạch - tùng cũng có ý nghĩa và biểu tượng của sự trường thọ, bền vững, dũng khí và bản lĩnh hay một tầng tượng trưng cho sự cao sang và an lạc.

Trong hình tượng trang trí, hạc có kích thước lớn, cao, với ước mong phát triển. Hạc có mỏ dài, nhọn như mũi tên của sự vận động. Đôi khi hạc ngậm ngọc minh châu biểu trưng cho sang quý, hoặc khi ngậm hoa sen thì biểu trưng cho sự giác ngộ, xua đi màn đêm.

Thân hạc hình khum, tượng trưng cho bầu tời, chân cao như cột chống trời. Ở Việt Nam việc sử dụng hỗn hợp các hình tượng tôn giáo khá phổ biến và nó cũng trở thành biểu tượng văn hóa của Phật giáo, Nho giáo, nên Hạc thường được mô tả đứng chầu trên lưng Rùa trong đề tài Tiên cưỡi Hạc trên điêu khắc đình làng.

Hạc được thể hiện ra tượng tròn đứng trên con rùa thường để trên bàn thờ, đình, chùa còn cái đầu đội hoặc mỏ ngậm một cái đế để cắm nến. Trong quan niệm truyền thống, Hạc và Rùa đều là những loài sống lâu nên đời sau thường dùng những từ như “hạc linh”, “hạc thọ”, “hạc toàn” với dụng ý cho sự trường thọ, bền vững.

Hình tượng chim hạc trong đời sống tâm linh người Việt

Ở Việt Nam, Hạc được xem như một loài chim quý. Hình ảnh Hạc thường xuất hiện bên các vị thần tiên, là loài vật tượng trưng cho sự trường thọ. Chim Hạc thường xuất hiện trong điêu khắc trang trí đình làng với hình ảnh gắn liền của Hạc - Rùa (tượng tròn, đặt hai ban thờ Thành Hoàng làng), biểu tượng của sự trường tồn, vĩnh cửu, có ý nghĩa về thời gian và vũ trụ.

Hình ảnh biểu tượng rùa hạc xuất hiện nhiều trong tranh chúc thọ, các bình phong, hoặc tranh vẽ hay đồ chạm khắc. Đến tham quan các khu đền, miếu, đình, chùa thường thấy tượng rùa cõng trên lưng con chim hạc cao lêu khêu và không chỉ ở các đền chùa mà ngay cả những bộ đỉnh đồng thờ gia tiên cũng sử dụng hình ảnh hai con vật này để thờ cúng. Rùa đội hạc là biểu tượng “thọ đội thọ”, sự trường tồn trở lên gấp nhiều lần.

Mặt khác, rùa là loài sống sát mặt đất, hạc là loài bay sống ở trên cao nên khi đặt hạc đứng trên lưng rùa thành một cặp thì đó là hình tượng hóa về sự hài hòa của trời và đất, hai thái cực âm dương. Con hạc đầu đội công lý, mắt biểu trưng cho mặt trời và mặt trăng, cánh là gió, lông là cây cỏ, còn chân có ý nghĩa là đất, là biểu tượng cho không gian, bầu trời và lực dương. Ngoài ra, những con hạc được thiết kế với chiếc mỏ há ra đang ngậm viên ngọc thể hiện sự trong sáng, còn biểu trưng cho đạo pháp nên hạc là con chim thiêng biết giảng về đạo lý.

Theo truyền thuyết Rùa và Hạc là đôi bạn thân. Khi trời làm mưa lũ, ngập úng cả một vùng rộng lớn, hạc không thể sống dưới nước nên rùa đã giúp hạc vượt vùng nước ngập úng đến nơi khô ráo. Ngược lại, khi trời hạn hán, rùa đã được hạc giúp đưa đến vùng có nước. Điều này tượng trưng cho một tình bạn trong sáng, tương trợ và giúp đỡ lẫn nhau lúc khó khăn, hoạn nạn giữa những người bạn tốt.

Bên cạnh đó, đôi chim Hạc thờ còn được sử dụng như một liệu pháp để “trấn phong thủy”, ngăn chặn tà khí, điều xấu vào nhà. Đôi chim Hạc được đặt ở vị trí liên kết tâm linh huyền bí với thế vững chắc. Với mong ước gia đình luôn hạnh phúc, hòa thuận để vượt qua mọi chuyện khó khăn trong cuộc sống.

Từ thời kỳ các triều đại phong kiến, chim Hạc đã được xem là biểu tượng của sự nghĩa hiệp, quân tử, ưu tú… Vì lý do này, triều phục của các quan sẽ thêu hình chim Hạc để biểu tượng cho cốt cách của người sĩ phu “đầu đội trời, chân đạp đất”.

Trải qua bao đời, nghệ thuật trang trí các công trình kiến trúc tâm linh được thể hiện rất phong phú, sinh động. Hình tượng các con vật, hoa lá, cỏ cây, tứ linh, bát vật… được cách điệu thành các đồ án trang trí, vừa thích hợp với bố cục trang trí của không gian kiến trúc truyền thống, có tính thẩm mỹ cao, vừa mang sự linh thiêng trong tín ngưỡng văn hóa dân gian, đậm nét bản sắc văn hóa Việt.

Tuy lịch sử, xã hội đã có nhiều biến động, cùng với đó, tư duy thẩm mỹ trong kiến trúc qua từng thời kỳ cũng có nhiều đổi thay, song những đồ án truyền thống về tứ linh, bát vật nói riêng cũng như nghệ thuật trang trí và kiến trúc truyền thống tại các đình, đền, chùa… vẫn giữ gìn và tiếp nối từ thế hệ cha ông đi trước, góp phần bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc.

Ban Nghiên cứu VHTN phía Nam

 

 

Tags:

Bài viết khác

Hải Phòng: Mâm bồng và lễ rước lão – nét đẹp văn hóa ở đình Tây

Mỗi mùa xuân về, lễ hội đình Tây không chỉ là dịp tưởng nhớ tiền nhân mà còn là không gian lưu giữ những giá trị văn hóa đặc sắc của làng quê Bắc Bộ. Trong đó, mâm bồng đầy sắc quả và nghi lễ rước lão vẫn lặng lẽ góp phần làm nên bản sắc riêng, gợi nhắc về một truyền thống lâu đời được gìn giữ qua nhiều thế hệ.

Ý nghĩa cây đào - quất - mai ngày Tết

Tết đến xuân về, người Việt thường mua đào, mai, quất về trưng bày cho ngôi nhà, mong muốn may mắn, phước lộc sẽ đến với mọi người trong gia đình. Tuy nhiên, không phải ai cũng biết hết ý nghĩa của các loài cây này, chỉ biết rằng, vào dịp Tết Nguyên Đán, việc trang trí ngôi nhà bằng những cành đào, cây quất, cây mai đã trở thành tục lệ, nét đẹp văn hóa của người dân Việt Nam.

Những tập tục kiêng kỵ ngày đầu xuân năm mới

Mong muốn gặp những điều tốt đẹp, may mắn, sung túc người Việt có những tập tục kiêng kỵ ngày đầu xuân năm mới: quét nhà, làm vỡ đồ đạc, đòi nợ, cãi nhau…

Quan niệm “mùng 1 Tết cha, mùng 2 Tết mẹ, mùng 3 Tết thầy” trong văn hóa người Việt

Quan niệm “mùng 1 Tết cha, mùng 2 Tết mẹ, mùng 3 Tết thầy” đã xuất hiện từ rất lâu trong văn hóa của người Việt, nhưng người ta không xác định được chính xác nguồn gốc của câu nói dân gian này. Trải qua hàng nghìn năm, câu nói dân gian “mùng 1 Tết cha, mùng 2 Tết mẹ, mùng 3 Tết thầy” đã trở thành một thành ngữ ăn sâu vào trong văn hóa truyền thống của người Việt Nam.

Tục tống cựu nghinh tân đón Tết của người Việt

Tống cựu nghinh (nghênh) tân vốn nghĩa là đưa cái cũ đi, đón cái mới đến, tống tiễn những khó khăn vất vả năm cũ và dành chỗ cho những may mắn tốt đẹp sắp đến trong năm mới.

Đi Lễ Chùa Đầu Năm - Nét Duyên Trong Phong Tục Ngày Tết

Trong đời sống văn hóa của người Á Đông nói chung và người Việt nói riêng thì đi lễ chùa đầu năm cầu may mắn, bình an là phong tục tập quán lâu đời. Mùa xuân là mùa sinh sôi nảy nở trong quan niệm, khởi đầu năm mới và gắn liền với tín ngưỡng của người Việt.

Phong tục truyền thống Đêm giao thừa

Giao thừa là thời khắc chuyển giao giữa năm cũ và năm mới, thời khắc trời đất giao hòa, âm dương hòa quyện để vạn vật bừng lên sức sống mới.

Nguồn gốc và ý nghĩa Tết Nguyên Đán

Tết đến xuân về không chỉ là niềm khao khát của biết bao đứa trẻ để được xúng xính quần áo mới, được ăn bánh mứt và nhất là được nhận lì xì mà nó còn mang một ý nghĩa vô cùng sâu sắc. Đó là điểm giao thời giữa năm cũ và năm mới, giữa một chu kỳ vận hành của đất trời, vạn vật cỏ cây.
Top