banner 728x90

Các biện pháp bảo vệ và phát huy giá trị di sản thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu.

19/02/2025 Lượt xem: 3591

Việc bảo vệ di sản thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu phải là sự phối kết hợp của nhiều biện pháp khác nhau, với sự tham gia của nhiều bên, trong đó phát huy vai trò của cộng đồng, cụ thể là của đồng thầy và bản hội, là một trong những biện pháp quan trọng nhất.

Ảnh minh họa

Thứ nhất, nâng cao nhận thức cho đồng thầy và bản hội về giá trị, bản chất của các thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu. Đây có thể coi là một trong những biện pháp quan trọng nhất bởi mọi thứ đều bắt nguồn từ nhận thức. Nhận thức không đúng về giá trị của các thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu sẽ dẫn tới những hành động sai lầm làm biến tướng tín ngưỡng. Trong đó, nên đặt trọng tâm nâng cao nhận thức trước hết cho đồng thầy và từ đồng thầy những nhận thức đó sẽ được truyền xuống cho các tín đồ trong bản hội. Đồng thầy là thủ lĩnh tâm linh, là chủ bản hội, do đó nếu đồng thầy nhận thức đúng đắn về giá trị của thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu thì cả bản hội sẽ nhận thức đúng. Một số thanh đồng trong bản hội đó sau này cũng sẽ trở thành đồng thầy và họ lại tiếp tục trao truyền những nhận thức đó cho các tín đồ của mình. Đồng thầy nhận thức sai kéo theo cả một bản hội sai và những thế hệ tiếp theo của bản hội đó sai. Để nâng cao nhận thức của đồng thầy và bản hội thì những việc cần thiết nên làm là: Tổ chức các tọa đàm, các hội thảo khoa học về các vấn đề liên quan đến tín ngưỡng thờ Mẫu có sự tham gia của đồng thầy, cộng đồng bản hội cùng các nhà khoa học. Bên cạnh đó, rất cần tăng cường truyền thông bằng báo đài, Internet về giá trị, bản chất của các thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu và sự cần thiết phải bảo vệ thực hành tín ngưỡng này để giữ gìn bản sắc dân tộc và để xứng tầm là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. Đồng thời cũng tăng cường tuyên truyền về sự cần thiết cần có sự chung tay của các đồng thầy và bản hội trong việc bảo vệ các thực hành đó. Trong thực tế, tín ngưỡng thờ Mẫu và giá trị của nó trước đây ít được nhắc đến trên các phương tiện truyền thông chính thống, trên truyền hình của Nhà nước bởi trong quá khứ nó bị khoác “chiếc áo” mê tín dị đoan và do vậy những thông điệp về cái hay cái đẹp của tín ngưỡng này không được lan truyền sâu rộng trong xã hội. Truyền thông cũng chưa thực sự nhận thức đúng và đề cao vai trò của đồng thầy, bản hội trong việc bảo vệ các thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu, thậm chí truyền thông còn có cái nhìn định kiến về các ông đồng, bà đồng. Thiết nghĩ việc truyền thông và xã hội đề cao      vai trò của đồng thầy và bản hội trong việc bảo vệ các thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu sẽ khiến họ cảm thấy tự hào và có trách nhiệm với di sản. Cần tiếp tục có các nghiên cứu về tín ngưỡng thờ Mẫu, xuất bản các ấn phẩm để tuyên truyền chân giá trị của tín ngưỡng này cho cộng đồng thực hành nó, cụ thể là cho đồng thầy và bản hội.

Thứ hai, mỗi địa phương nên thành lập câu lạc bộ, hội nhóm hoặc tổ chức của các đồng thầy. Thông qua các hội nhóm, tổ chức này để tăng cường vai trò của họ trong việc “lãnh đạo” bản hội và bảo vệ, phát huy các thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu. Cũng thông qua các hội nhóm, câu lạc bộ này để tổ chức các lớp tập huấn chuyên môn và trang bị cho họ những kiến thức về: Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo, Luật Di sản; Công ước về bảo vệ di sản văn hóa thế giới năm 2003. Có thể nói, phần lớn các đồng thầy hiện nay ít hiểu hoặc chưa hiểu rõ những kiến thức này. Vì vậy, việc trang bị kiến thức về các luật liên quan sẽ giúp đồng thầy thực hành tự do tín ngưỡng theo đúng khuôn khổ pháp luật cho phép và cùng với các thành viên bản hội nhận thức trách nhiệm của mình đối với việc bảo vệ bản sắc và bảo vệ di sản văn hóa của dân tộc. Nên chăng xây dựng một nhóm đồng thầy nòng cốt đi tiên phong trong việc bảo vệ các thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu và từ nhóm nòng cốt này trở thành tấm gương để các đồng thầy khác noi theo.

Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt

Thứ ba, tăng cường sự kết nối giữa đồng thầy, bản hội với các nhà nghiên cứu cũng như các nhà quản lý, các tổ chức phi chính phủ (NGOs) trong việc nghiên cứu, sưu tầm,… các tư liệu về thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu

Thứ tư, có những hình thức để khuyến khích việc truyền dạy thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu của đồng thầy và các thành viên bản hội. Song cần nhận thức rõ một điều, truyền dạy thực hành tín ngưỡng khác với truyền dạy của các nghề thủ công truyền thống hay các hình thức nghệ thuật trình diễn (hát quan họ, ví dặm,…). Đối với các nghề thủ công truyền thống hay các hình thức nghệ thuật trình diễn, nếu một người nào đó có niềm đam mê và thích thú thì có thể học nghề và được truyền nghề. Song thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu không phải là một nghề mà bất kỳ ai cũng có thể học được và cũng không phải có thể truyền nó cho bất kỳ ai. Phải là người được cho là có căn cốt và thậm chí được cho là phải có những năng lực đặc biệt thì mới có thể trở thành người đứng trong hàng ngũ những đệ tử được đồng thầy truyền dạy. Vì thế, truyền dạy các thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu nên được khai thác mạnh ở khía cạnh trao truyền những hiểu biết về nguồn gốc, lịch sử, các nhân vật được phụng thờ, giá trị của tín ngưỡng; cách thực hành tín ngưỡng và nhận thức về việc bảo vệ tín ngưỡng đó. Tất nhiên, có những thực hành trong tín ngưỡng thờ Mẫu có thể truyền dạy được phổ biến hơn, ví dụ: hát chầu văn hầu thánh. Vì vậy, nên hình thành các câu lạc bộ chầu văn với sự tham gia của các ban cung văn để trao truyền, học tập lẫn nhau và gìn giữ những lời ca và làn điệu cổ.

Tóm lại, đồng thầy và bản hội có vai trò to lớn trong thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu. Với tư cách là người dựng nên bản hội, sở hữu bản hội, đồng thầy đóng vai trò như là một “thủ lĩnh” dẫn dắt các đệ tử thực hành nghi lễ, trao truyền các thực hành cho họ, đồng thời đi đầu trong việc “hoằng dương” tín ngưỡng thờ Mẫu. Còn bản hội đóng vai trò là cộng đồng thực hành, bảo tồn, nuôi dưỡng và trao truyền các thực hành đó. Những bằng chứng về vai trò của đồng thầy và bản hội nói trên cho chúng ta những bài học mang tính lý thuyết trong việc bảo vệ di sản tín ngưỡng thờ Mẫu nói riêng và di sản văn hóa phi vật thể nói chung: cần tôn trọng vai trò của cộng đồng - chủ thể di sản và coi họ là lực lượng nòng cốt trong việc bảo vệ di sản./.

Ban Nghiên cứu VHTN phía Nam

Tags:

Bài viết khác

Hải Phòng: Mâm bồng và lễ rước lão – nét đẹp văn hóa ở đình Tây

Mỗi mùa xuân về, lễ hội đình Tây không chỉ là dịp tưởng nhớ tiền nhân mà còn là không gian lưu giữ những giá trị văn hóa đặc sắc của làng quê Bắc Bộ. Trong đó, mâm bồng đầy sắc quả và nghi lễ rước lão vẫn lặng lẽ góp phần làm nên bản sắc riêng, gợi nhắc về một truyền thống lâu đời được gìn giữ qua nhiều thế hệ.

Ý nghĩa cây đào - quất - mai ngày Tết

Tết đến xuân về, người Việt thường mua đào, mai, quất về trưng bày cho ngôi nhà, mong muốn may mắn, phước lộc sẽ đến với mọi người trong gia đình. Tuy nhiên, không phải ai cũng biết hết ý nghĩa của các loài cây này, chỉ biết rằng, vào dịp Tết Nguyên Đán, việc trang trí ngôi nhà bằng những cành đào, cây quất, cây mai đã trở thành tục lệ, nét đẹp văn hóa của người dân Việt Nam.

Những tập tục kiêng kỵ ngày đầu xuân năm mới

Mong muốn gặp những điều tốt đẹp, may mắn, sung túc người Việt có những tập tục kiêng kỵ ngày đầu xuân năm mới: quét nhà, làm vỡ đồ đạc, đòi nợ, cãi nhau…

Quan niệm “mùng 1 Tết cha, mùng 2 Tết mẹ, mùng 3 Tết thầy” trong văn hóa người Việt

Quan niệm “mùng 1 Tết cha, mùng 2 Tết mẹ, mùng 3 Tết thầy” đã xuất hiện từ rất lâu trong văn hóa của người Việt, nhưng người ta không xác định được chính xác nguồn gốc của câu nói dân gian này. Trải qua hàng nghìn năm, câu nói dân gian “mùng 1 Tết cha, mùng 2 Tết mẹ, mùng 3 Tết thầy” đã trở thành một thành ngữ ăn sâu vào trong văn hóa truyền thống của người Việt Nam.

Tục tống cựu nghinh tân đón Tết của người Việt

Tống cựu nghinh (nghênh) tân vốn nghĩa là đưa cái cũ đi, đón cái mới đến, tống tiễn những khó khăn vất vả năm cũ và dành chỗ cho những may mắn tốt đẹp sắp đến trong năm mới.

Đi Lễ Chùa Đầu Năm - Nét Duyên Trong Phong Tục Ngày Tết

Trong đời sống văn hóa của người Á Đông nói chung và người Việt nói riêng thì đi lễ chùa đầu năm cầu may mắn, bình an là phong tục tập quán lâu đời. Mùa xuân là mùa sinh sôi nảy nở trong quan niệm, khởi đầu năm mới và gắn liền với tín ngưỡng của người Việt.

Phong tục truyền thống Đêm giao thừa

Giao thừa là thời khắc chuyển giao giữa năm cũ và năm mới, thời khắc trời đất giao hòa, âm dương hòa quyện để vạn vật bừng lên sức sống mới.

Nguồn gốc và ý nghĩa Tết Nguyên Đán

Tết đến xuân về không chỉ là niềm khao khát của biết bao đứa trẻ để được xúng xính quần áo mới, được ăn bánh mứt và nhất là được nhận lì xì mà nó còn mang một ý nghĩa vô cùng sâu sắc. Đó là điểm giao thời giữa năm cũ và năm mới, giữa một chu kỳ vận hành của đất trời, vạn vật cỏ cây.
Top